Lại Nguyên Ân




 

Bút danh khác : Vân Trang , Ngân Uyên, Tam Vị , Nghĩa Nguyên.

Quê quán làng Phù Đạm xã Phù Vân huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam, tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1968.

 Biên tập sách văn học nhà xuất bản Tác Phẩm Mới (nay là nxb. Hội Nhà Văn).

 Hội viên Hội nhà văn VN.

 Hoạt động chủ yếu là phê bình, nghiên cứu văn học, biên dịch thông tin lý luận văn hoá văn nghệ.

 Có bài đăng báo từ  1972.

****

PHAN KHÔI: VẤN ĐỀ PHỤ NỮ Ở NƯỚC TA

HỌC GIẢ PHAN KHÔI VỚI “VẤN ĐỀ PHỤ NỮ”

Phan Khôi (1887-1959) là một trong số những tác gia quan trọng của lịch sử báo chí, tư tưởng văn hóa Việt Nam thế kỷ XX. Trong số những vấn đề xã hội mà Phan Khôi đã đề xuất và lên tiếng trong dư luận báo chí ở Việt Nam từ những năm 1930, không thể không kể tới vấn đề phụ nữ.

Chính tờ tuần báo Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn – mà Phan Khôi góp phần cộng tác rất đắc lực – từ giữa năm 1929 đã khởi lên việc luận bàn về “vấn đề phụ nữ”, chỉ ra thực trạng bất bình đẳng về giới, giữa giới nam và giới nữ, dưới ảnh hưởng của ý thức hệ Khổng giáo và nền quân chủ chuyên chế đã tồn tại suốt hàng ngàn năm và đang tỏ rõ là một trong những lực cản trở xã hội Việt Nam bước vào thời hiện đại, hội nhập với đời sống của thế giới, đời sống nhân loại đương đại. Vấn đề phụ nữ – mà một số tác gia người Việt, nam và nữ, như Sương Nguyệt Anh, Đạm Phương nữ sử, Hoành Sơn (Đặng Văn Bảy), v.v… đã từng nêu lên từ những năm 1920, chính với tuần báo “Phụ nữ tân văn” và loạt bài của Phan Khôi, vào các năm 1929-1932, đã gây được tiếng vang chưa từng thấy trong dư luận báo chí ở Nam Kỳ, có tiếng dội ra cả Trung Kỳ, Bắc Kỳ.

Cuối năm 1933 đầu năm 1934, Phan Khôi được mời làm chủ bút tờ Phụ nữ thời đàm tại Hà Nội; ông đã đổi tờ này thành tuần báo và sử dụng tờ báo này để nêu vấn đề phụ nữ với dư luận Bắc Kỳ, vốn còn nhiều phần nệ cổ hơn Nam Kỳ trên nhiều vấn đề văn hóa xã hội. Tuy chỉ giúp tờ báo này tồn tại đến đầu năm 1934, song dấu ấn Phan Khôi để lại trên tờ báo này, – trong đó có việc nêu các vấn đề về giới và bình đẳng giới, – vẫn là những dấu tích sâu đậm.

Sau thời gian trên, khi làm chủ bút Tràng An Báo ở Huế (1935-1936), chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Sông Hương ở Huế (1936-1937), tuy không phải là các tờ báo chuyên về giới, Phan Khôi cũng có những bài báo đáng chú ý về phụ nữ, nêu các vụ việc cụ thể về những phụ nữ bị ngược đãi, hoặc đơn giản chỉ là giải đáp về các vấn đề về phụ nữ và gia đình.

Như vậy, Phan Khôi là nhà ngôn luận có những đóng góp đáng kể trong việc nêu ra và đề xuất những cải cách, đổi mới trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX xung quanh vấn đề phụ nữ; ông là một trong những tác gia Việt Nam có sự quan tâm sâu rộng nhất đến đề tài phụ nữ, không chỉ dưới góc độ xã hội mà còn cả dưới các góc độ văn hóa, văn học. Nói gọn lại, Phan Khôi chính là một trong những tác gia Việt Nam đầu tiên tiếp cận tư tưởng nữ quyền một cách hệ thống và có sức thuyết phục cao.

Thời gian gần đây, trong việc tiếp cận nghiên cứu lịch sử tư tưởng nữ quyền ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, khi đề cập đến một số tác gia tiêu biểu của xu hướng này, các nhà nghiên cứu đôi khi đã đưa ra sự nhận định theo lối xếp hạng, theo đó, những tên tuổi như Sương Nguyệt Anh, Đạm Phương nữ sử, rồi Đặng Văn Bảy (tức Hoành Sơn, tác giả cuốn “Nam nữ bình quyền” in 1928 và bị cấm ngay sau đó, vừa đây được phát hiện và tái bản, 2014), rồi Phan Bội Châu, cả Phan Khôi nữa, được đem so đọ xem ai là người “đi xa nhất” trên các vấn đề của tư tưởng nữ quyền?! 

Người đang viết những dòng này không có ý định “đo đạc” tư tưởng nữ quyền ở Phan Khôi theo kiểu cách trên đây.

Tôi chỉ lưu ý rằng trong việc tiếp cận vấn đề phụ nữ, khởi đầu từ tháng 5/1929 với tuần báo Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn, Phan Khôi và những người chủ trương tờ báo này chú trọng trước hết không phải tính lý thuyết mà là tính thực tiễn của vấn đề phụ nữ ở Việt Nam; họ có những động thái giảm sốc tối đa khi biết mình đang đối mặt một xã hội nam quyền với rất nhiều định kiến tuy bất bình đẳng nhưng đã thành thiên kinh địa nghĩa. Do vậy họ không chú trọng nêu lên ngay từ đầu một quan niệm thật đầy đủ về vấn đề giới tính, vấn đề phụ nữ, không nêu lên ngay từ đầu những đòi hỏi như “nam nữ bình quyền”, “giải phóng phụ nữ”, “hôn nhân tự do”, v.v. Trái lại, Phan Khôi và những người chủ trương tờ báo này chú trọng đặt “vấn đề phụ nữ” ra với công chúng, với xã hội đương thời, xét từ nhu cầu tiến hóa xã hội.

Sau một vài bài báo công khai tôn chỉ của tuần báo Phụ nữ tân văn trước khi báo này ra mắt trên một tờ báo khác, rồi trên chính tuần báo này ở các số báo đầu tiên, Phan Khôi và những người chủ trương Phụ nữ tân văn đã tổ chức một cuộc trưng cầu ý kiến về vấn đề phụ nữ, hỏi chuyện trực tiếp hoặc gửi thư xin ý kiến một số trí thức có tiếng trong nước đương thời (Trần Trọng Kim, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Quang Chiêu, Phan Bội Châu, Đạm Phương, Tản Đà, Nguyễn Văn Bá, Diệp Văn Kỳ, Cao Văn Chánh), đăng tải suốt 14 kỳ báo, đồng thời cũng mở mục “Tự do diễn đàn” đăng các ý kiến công chúng gửi tới. Tựu chung, “Phụ nữ tân văn” trở lại khẳng định điều đã tuyên bố ngay từ đầu:

“Tình thế phụ nữ ở trong nước ta ngày nay, quyết không phải như là hồi trước, lấy khuê môn làm cửa ngục cho đàn bà, mà việc gánh vác non sông không phải là phần việc của con gái. Cuộc đời ngày một khó khăn, mỗi việc bắt người ta phải dùng đến sức mạnh hay là óc khôn thì mới có cơ sanh hoạt. Chị em ta cũng vậy, không thể nào cứ giữ hoài những tục hủ, thói quen, và cái tánh phong lưu, ỷ lại nữa. Nếu có muốn sanh tồn ở đời nầy, thì cũng phải mưu tự lập lấy mình, phải học hành, phải tranh đua, phải tiến bộ mới đặng. Huống chi còn đối với mọi phương diện ở đời, nào gia đình, nào xã hội, nào giáo dục, nào kinh tế, mỗi việc ta đều phải có nghĩa vụ gánh vác ở trong, không có thể nào từ chối đặng. Nhà cửa suy hay thạnh, chồng con giỏi hay hèn, nòi giống yếu hay mạnh, đều là những việc ta phải nhận làm việc mình chớ không thể chỉ quy trách vào người đàn ông hết cả. Những lẽ đó khiến cho chị em bạn gái chúng ta phải lo tu thân và tiến bộ để làm cho trọn cái thiên chức của mình, và để cho theo kịp người ta mà sanh tồn là như vậy.”

      (Chương trình của bổn báo // Phụ nữ tân văn, s. 1, ngày 2/5/1929)

 

Người ta thấy, bên cạnh các loại bài vở gắn với đề tài phụ nữ, tòa soạn Phụ nữ tân văn và gia đình chủ báo còn tổ chức các hoạt động mang tính xã hội như lập học bổng cấp cho học sinh đi du học nước ngoài; hoặc tổ chức Hội chợ Phụ nữ đầu tiên ở Sài Gòn (1932). Phan Khôi tham gia tích cực các hoạt động này.

Cách thức hoạt động như trên chính là tổ chức vận động công chúng chứ không chỉ thuần túy là trình bày một số quan điểm, một số tư tưởng mới về vấn đề giới, vấn đề giới nữ.

Cách hoạt động này nhắc người ta nhớ tới hoạt động xã hội chính trị của chính Phan Khôi hồi thập niên đầu thế kỷ XX, khi ông tham gia phong trào duy tân, tham gia “minh xã” của Phan Châu Trinh, vận động cắt tóc ngắn, vận động “xin xâu”, được Phan Tây Hồ đưa ra Hà Nội (1908), dự định đưa vào làm ở Đông Kinh nghĩa thục và viết cho tờ “Đăng cổ tùng báo”. Vì trường Đông Kinh bị chính quyền thực dân giải tán (sau đó những người chủ trương Nghĩa thục bị đưa đi đày), nên Phan Khôi xuống Nam Định học chữ Pháp với cụ Nguyễn Bá Học, rồi liền đó chính quyền tỉnh Quảng Nam triệu Phan Khôi về, đưa ra xử chung với nhiều nghi phạm khác trong “vụ án xin sâu”, kết án rồi giam tại nhà lao Quảng Nam (1908-1911). Ra tù, ông còn hoạt động trong “ám xã” của Phan Bội Châu thêm một thời gian nữa; sau đó, ông xin rút ra khỏi đoàn thể duy tân bí mật, tự học hỏi, tự đào luyện mình để có thể làm những công việc như dạy học, viết báo, tóm lại là “phục vụ tổ quốc về mặt văn hóa”. Tức là Phan Khôi từ vai trò một chí sĩ đã chuyển mình hoàn toàn sang vai trò một người dân thường có hoạt động ngôn luận, một trí giả dân sự, sống cuộc sống thế tục của thường dân, lấy viết văn viết báo làm nghề tự nuôi sống, lấy báo chí làm môi trường kiếm sống đồng thời là môi trường vận động khai sáng đồng bào mình theo hướng canh tân.

Việc Phan Khôi cộng tác với các tuần báo Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm cho thấy khá rõ sự thực hiện mục tiêu vận động cải lương, sửa đổi phong tục, đưa xã hội người Việt thoát dần ra khỏi đời sống trung cổ lạc hậu.

Tất nhiên khi đã xác định cho tờ báo một phạm vi chuyên đề về giới, Phan Khôi và tòa soạn Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm cũng cần tạo ra một loạt đề tài, thể tài nhất định, làm phong phú cho một loại ấn phẩm đã phần nào tự giới hạn góc nhìn đời sống. Bản thân Phan Khôi cũng đã tự mình đa dạng hóa ngòi bút mình trong sự tiếp cận đề tài phụ nữ. Ông không chỉ viết các bài nghị luận về các khía cạnh cần giải đáp của vấn đề phụ nữ, mà còn rút từ tin tức báo chí đương thời để tỏ thái độ trước các vụ việc liên quan đến những xử sự về giới, nhất là những ứng xử bất công, phi nhân tính; ông dịch thuật những thông tin về phong trào nữ quyền ở một số nước ngoài; ông lục lại sử sách xưa để đưa lại cho công chúng những mảng sử liệu, những phong tục liên quan đến phụ nữ, những phác thảo, những “liệt truyện” về các nhân vật nữ xuất sắc trong quá khứ; ông là nhà phê bình văn học đã phác họa diện mạo các sinh hoạt của phụ nữ người Việt xưa thể hiện qua ca dao tục ngữ người Việt; không chỉ dừng lại ở những đề tài “phi hư cấu”, ông còn thử sức viết truyện với đề tài chống lại tình trạng bất bình đẳng nam nữ, trong “Trở vỏ lửa ra” (1939), thiên truyện dài đầu tay và duy nhất trong đời viết văn của ông.

Có thể nói, Phan Khôi là một trong số những tác giả Việt Nam sớm nhất tạo dựng được cả một tập hợp các loại tri thức và thông tin xã hội, lịch sử, văn hóa xung quanh vấn đề giới nữ; về mặt này, ông đã hoạt động như một nhà xã hội học tiên phong.

Hướng tới công chúng độc giả thông qua các trang báo in, ngòi bút Phan Khôi đã lần lượt đề cập hầu hết các phương diện quan trọng nhất của vấn đề phụ nữ trong xã hội đương thời, khi mà xã hội Việt Nam đang mở ra, giao lưu và hội nhập với thế giới, với nhân loại văn minh hiện đại. Các vấn đề về giới nữ nảy sinh ở xã hội người Việt lúc ấy chủ yếu do sự chênh lệch giữa các chuẩn mực nhân sinh của nhân loại hiện đại so với xã hội ta, trong đó nhiều chuẩn mực tỏ rõ là khá lạc hậu, có khi là mông muội, tối tăm, thể hiện rõ nhất ở những kỳ thị đối với giới nữ. Ngòi bút Phan Khôi trước hết vạch ra những tệ đoan trong quan niệm, trong các chuẩn mực và nếp sống hiện hành, nêu yêu cầu sửa đổi cả quan niệm lẫn hành động.

Ngòi bút Phan Khôi đề cập hầu hết các khía cạnh căn bản của vấn đề phụ nữ, từ đòi hỏi xem xét người nữ trong tư cách làm người nói chung chứ không chỉ trong tư cách làm vợ làm mẹ, nhân đó nêu các vấn đề phụ nữ với “quốc sự” (chính trị), vấn đề nữ lưu giáo dục, vấn đề “nữ công”, và nhất là các vấn đề về nhân phẩm, về hôn nhân gia đình, v.v.

 Có những vấn đề được ông đề cập đến ngọn ngành, sâu sắc. Chẳng hạn, vấn đề trinh tiết, “chữ trinh”, Phan Khôi đề xuất sự phân biệt “tiết trinh” và “nết trinh”. Cái “nết” là sự tự nguyện giữ gìn phẩm giá đoan chính của người nữ. Trong khi cái “tiết” là bổn phận của người phụ nữ chết chồng, là đòi hỏi nghiêm khắc, mang tính áp đặt phi nhân của Nho giáo, nhất là Tống nho, đối với người phụ nữ, và suy cho cùng nó là “do lòng tham lam và thói ích kỷ của bọn đàn ông bày ra, rất là không công bình”. Đề xuất này của Phan Khôi là đưa ra một chuẩn mực nhìn nhận cho xã hội đối với một loại hành vi của người nữ trong hôn nhân; chuẩn mực này thể hiện tính nhân bản sâu sắc, bởi một mặt nó giải phóng người nữ khỏi một quan hệ hôn nhân thực tế đã liễu kết, đồng thời nó tính đến chứ không bỏ qua sự lựa chọn thái độ sống của người nữ trong cuộc.

Trong các vấn đề hôn nhân gia đình, Phan Khôi tỏ rõ một cái nhìn của nhà xã hội học tinh nhạy, ví dụ, ông sớm nhận ra dấu hiệu mang tính vấn đề ở những vụ thanh niên tự tử, nhất là ở đô thị, hồi đầu những năm 1930. Đó, theo ông, là triệu chứng khủng hoảng của chế độ đại gia đình, khi “kẻ bề dưới [...] đã đến tuổi trưởng thành rồi, thì mong được độc lập, không chịu quyền bó buộc của bề trên nữa”. Chế độ đại gia đình (tam tứ đại đồng đường) lâm vào khủng hoảng, sẽ phải nhường chỗ cho chế độ gia đình hạt nhân (chỉ gồm bố mẹ và các con chưa trưởng thành)! Phan Khôi viết điều này vào năm 1931, dường như đã gợi ý cho các tiểu thuyết gia của Tự Lực văn đoàn vài ba năm sau đó sẽ khai triển vấn đề này trong các sáng tác văn xuôi tự sự hư cấu của họ và nhận được sự đồng tình và hưởng ứng đáng kể từ phía công chúng thanh niên.

Cách xem xét vấn đề phụ nữ của Phan Khôi liên quan mật thiết với quan điểm của ông về Nho giáo, thể hiện rõ nhất trong loạt 21 bài đăng nhật báo Thần chung cuối năm 1929 nhan đề “Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta”. Những bất bình đẳng của giới nữ so với giới nam ở xã hội người Việt, theo ông, hầu hết có nguồn từ quan niệm trọng nam khinh nữ của Nho giáo, học thuyết từ Trung Hoa du nhập vào xã hội Việt Nam theo gót chân kẻ xâm lược phương Bắc. Đến khi người Việt xây dựng được nền độc lập về chính trị thì các triều đại quân chủ Việt Nam lại tiếp tục dùng Nho giáo làm hệ ý thức chính thống; nhiều quan niệm và chuẩn mực kỳ thị giới nữ của Nho giáo, nhất là của Tống nho, được phổ biến vào xã hội Việt Nam, trở thành những phong tục của sinh hoạt cộng đồng.

Trong không ít bài viết của Phan Khôi, nội dung phê phán Nho giáo nhiều khi hòa vào, gần như đồng nhất với việc phê phán những quan niệm và chuẩn hành vi kỳ thị giới nữ. Ở các bài viết về đề tài “hoàng đế với phụ nữ”, Phan Khôi đã vạch ra những tội ác đối với người nữ nơi hậu cung của những kẻ cầm đầu các chế độ quân chủ. Nhưng sâu sắc hơn lại chính là những bài đối chiếu chế độ gia đình ở xã hội người Việt với luân lý Khổng Mạnh, cho rằng so với “ngũ luân” (của Khổng Mạnh) thì “tam cương” (của Hán nho) mới thật sự nghiệt ngã, áp đặt đặc quyền của vua đối với bề tôi, của cha đối với con, của chồng đối với vợ. Bởi vì, theo Phan Khôi, “ngũ luân” (và tư tưởng Khổng Mạnh nói chung) còn gắn với không khí “bách gia tranh minh” của thời đại Xuân Thu Chiến Quốc; đến Hán nho thì nó đã trở thành học thuyết được nhà nước quân chủ chuyên chế từ Hán Vũ Đế độc tôn, lấy làm hệ ý thức chính thống, nên nó lệch hẳn về phía bảo vệ chế độ quân chủ, tạo ra diễn ngôn về tương đồng giữa quân chủ và gia trưởng, củng cố chế độ quân chủ chuyên chế bằng việc trao đặc quyền cho gia trưởng. Chính sự độc tôn Nho giáo như ý thức hệ chính thống suốt hai ngàn năm quân chủ Trung Hoa đã dẫn tới những chủ trương cực đoan kỳ thị nữ giới, ví dụ Tống nho xem “chết đói là việc nhỏ, thất tiết mới là việc lớn”, đòi hỏi người phụ nữ chết chồng gặp cảnh đói kém phải chịu chết đói chứ không được đi lấy chồng khác! Quan niệm vô nhân đạo này của Tống nho đã bị Phan Khôi chỉ trích kịch liệt, đến mức ông bị một nhà nho cùng thời nhưng còn nặng lòng với Nho giáo là Tản Đà bài bác rất kịch liệt, xem Phan Khôi là “cái tai nạn của Nam Kỳ”, đòi đưa Phan Khôi ra “làm án trảm giam hậu” trước công luận báo giới, gây ra một vụ việc khá ồn ào trên dư luận trong Nam ngoài Bắc những năm 1932-33.

Một nét khá đặc trưng cho ngòi bút và tính cách Phan Khôi là khi xuất hiện trên mặt báo, ông không những không dấu diếm con người thực, gia cảnh thực của mình, trái lại, có khi còn đưa các sự việc trong gia cảnh mình ra làm chất liệu để phân tích các vấn đề xã hội. Tiêu biểu về loại này là bài “Chuyện bà cố tôi”, với phụ đề “Một lá đơn kiện cái chế độ gia đình An Nam”. Câu chuyện người đàn bà đảm đang, ăn nên làm ra, dựng dõi cho cả một gia đình gồm vài ba thế hệ con cháu, từ nghèo đói đến sung túc, từ thất học đến có người đỗ đạt, càng chứng tỏ công lao của “bà cố” tác giả đối với các thế hệ con cháu bao nhiêu, thì người ta càng ngạc nhiên bấy nhiêu về việc bà cố khi mất không được chôn ở đất công của làng mà phải chôn ở đất tư, không được con cháu thờ chung với ông cố mà phải thờ riêng! Là vì ngay người trong gia đình cũng phải xử sự theo lễ (của thánh hiền Nho giáo), theo luật (của làng xã, nhà nước quân chủ). Lý do chỉ là: khi ông cố mất sớm, để lại cho bà cố một đàn 5 đứa con, bà đã phải cải giá, đi lấy chồng mới để có chỗ nương tựa, cùng làm lụng buôn bán nuôi đàn con vừa con chồng cũ vừa con chồng mới được ăn học nên người. Điều tác giả gọi là “vết thương” mà lễ nghĩa và lề luật gây cho gia đình ông, ông đem truyền cho công chúng, để họ cùng thấy những lễ nghĩa, lề luật kỳ thị người đàn bà là bất công, phi lý ra sao, bởi thực chất nó chỉ thỏa mãn lợi ích ích kỷ của giới đàn ông, nó chỉ đánh dấu đặc tính của xã hội nam quyền, nhưng lại gây ra những hậu quả phi nhân, đáng căm phẫn.

Xuất thân từ Hán học, Phan Khôi có nhiều lợi thế để khai thác nguồn sách sử cũ; trong thời gian làm các tờ báo phụ nữ, ông đã kịp đưa ra một phác thảo về “Việt Nam phụ nữ liệt truyện” để ghi nhớ những nhân vật nữ người Việt trong quá khứ, một phác họa về “nữ lưu nhân vật” để ghi nhận những tên tuổi phụ nữ nổi bật đương thời. Về mặt này, ông đã chỉnh sửa được những sai sót về phân loại của một trong những người đi trước ở công việc này là Lê Dư (trong các cuốn “Nam quốc nữ lưu”, “Nữ lưu văn học sử”). Phan Khôi cũng là một trong những nhà văn học sử Việt Nam đầu tiên khởi thảo và giới thuyết các phạm trù “văn học với nữ tính”, văn học của tác gia nữ. Thiên khảo luận tìm hiểu sinh hoạt, phong tục phụ nữ Việt Nam qua tục ngữ phong dao tiếng Việt, do Phan Khôi thực hiện (dựa vào kết quả sưu tầm của soạn giả Nguyễn Văn Ngọc), là một kiểu nghiên cứu xã hội học phong tục, từ cứ liệu thơ ca dân gian.

Cũng cần ghi nhận nỗ lực của Phan Khôi khi ông tìm tòi thể hiện “vấn đề phụ nữ” trong xã hội Việt Nam bằng thể truyện hư cấu. Truyện dài “Trở vỏ lửa ra” mô tả một thiếu nữ thôn quê Trung Kỳ ham học, muốn vươn lên về tri thức, nhưng vấp phải rào cản lệ tục của xã hội nam quyền, theo đó, cha mẹ cô tuy giàu nhưng không có con trai “nối dõi” nên đã nhận một người cháu họ làm con, cho y quyền gia trưởng định đoạt gia tài. Cô muốn dựa vào điền sản cha mẹ để lấy tiền du học Sài Gòn, Hà Nội, nhưng thường bị người anh họ được quyền thừa kế ấy ngăn cản, vì y mưu độc chiếm phần lớn gia sản ấy. Cô phải vừa học vừa làm thêm, nên kiệt sức, bị bệnh lao rồi chết. Cái chết của cô, thực chất là do bị người anh họ kia chiếm đoạt mất nguồn gia sản, nhưng sâu xa hơn, lại có nguồn từ lệ tục trọng nam khinh nữ vốn là chuẩn mực của xã hội nam quyền, cái lệ tục đã khiến cha mẹ cô đem giao quyền thừa kế cho người cháu, thực ra là người dưng. Tác giả Phan Khôi dường như biết rất rõ nguyên tắc bi kịch, theo đó nhân vật mang tham vọng tốt đẹp phải bị chết, bị đứt gánh giữa đường thì hiệu ứng bi kịch mới nảy sinh. Song chính kết cục này, đặt vào xã hội Việt Nam những năm 1930-40, lại chưa hẳn đã là điều không thể tránh. Người đọc căm ghét người anh họ tham lam, xót thương cô gái bất hạnh, nhân đó thấy rõ hơn ngọn nguồn tấn kịch là ở chế độ nam quyền, trọng nam khinh nữ; đó là điều tác giả “Trở vỏ lửa ra” đã đạt được.

Thiên truyện này được viết và in năm 1939, khi mà thể tài tiểu thuyết, và văn xuôi tự sự nghệ thuật tiếng Việt nói chung, đã bước những bước nhảy vọt, đạt tới những thành tựu đỉnh cao. Trong mùa màng văn học tự sự phong túc ấy, “Trở vỏ lửa ra” không nổi lên được, cũng là dễ hiểu. Dẫu vậy, việc tác giả dùng thể tài hư cấu nhắc nhở dư luận vấn đề phụ nữ vẫn chưa hết tính thời sự đối với xã hội Việt Nam, là điều cần ghi nhận.  

Trở lên là một số nét về mảng đề tài phụ nữ trong di sản báo chí, tư tưởng của nhà báo, học giả Phan Khôi.

Những bài viết và tác phẩm của ông, được tuyển trong sưu tập này, thiết nghĩ, vẫn còn đáng đọc, đáng suy ngẫm cho bạn đọc ở thế kỷ XXI.

Tháng Ba 2015 – Tháng Giêng 2016

LẠI NGUYÊN ÂN  

 

 

 

  NGHIÊN CỨU VĂN BẢN TIỂU THUYẾT “SỐ ĐỎ”

TỪNG ĐOẠN ĐƯỜNG VĂN

 

 

Biên niên hoạt động văn học Hội nhà văn Việt Nam

 

 TÌM  LẠI  DI  SẢN

 

LỜI DẪN

          Cuốn sách này là tập tiểu luận-phê bình thứ năm của tôi, kể từ sau các cuốn “Văn học và phê bình” (1984), “Sống với văn học cùng thời” (1997, 2003), “Đọc lại người trước, đọc lại người xưa” (1998), “Mênh mông chật chội…” (2009). Được tập hợp trong cuốn này là một phần những bài viết của tôi từ dăm năm nay, cũng có đôi bài từ những năm xa hơn, mới tìm lại được.

         Ai có kinh nghiệm làm sách đều biết, những bài viết khác nhau rất khó hợp thành một kết cấu chặt chẽ khi bị tập hợp vào trong cùng một cuốn sách. Tác giả cuốn này chỉ xếp các bài viết khác nhau của mình vào một số nhóm nhất định, nhưng vẫn không quên đây là những bài viết vốn độc lập với nhau.

Một nét có thể là tương đối chung cho phần nhiều các bài viết trong cuốn này là việc tác giả của nó quan tâm đến văn học Việt Nam như một loại di sản. Mối lo ngại về sự mất mát đã và đang xảy ra trong loại hình di sản này hầu như đã là một thứ “cảm hứng” cho những tìm tòi của tác giả trong những bài viết khác nhau, nhắm vào những tác giả, tác phẩm, sự kiện văn học hồ như đã hoặc đang bị lãng quên. Tên gọi “Tìm lại di sản”  đặt cho cuốn sách này là có nguồn từ đấy.

Tìm về di sản, tiếp cận khảo sát các dữ kiện văn học của quá khứ gần xa hơn là của đương đại, tuy vậy, tác giả vẫn tự cảm thấy chất phê bình không hề phai nhạt trong ngòi bút mình. Bạn đọc sẽ thấy: không chỉ thảo luận về văn chương đương đại mới là phê bình. Tác giả gọi đây là một cuốn tiểu luận-phê bình chứ không gọi là một cuốn tập hợp các bài nghiên cứu, là với dụng ý ấy.

Tác giả mong rằng, trong tay bạn đọc, đây sẽ là một cuốn sách có ích.

 

Hà Nội, tháng Năm 2012 

LẠI NGUYÊN ÂN

 

 

Đời sống văn nghệ ở miền Bắc VN qua báo chí đương thời

 

LỜI DẪN CHUNG Khoảng năm 2006, tôi đi tìm đọc lại và ghi chép hệ thống những tài liệu liên quan đến việc thành lập Hội Nhà Văn Việt Nam, nhằm tiến tới biên soạn một cuốn sách mang tính văn học sử về đời sống văn học ở miền Bắc VN từ sau kháng chiến 9 năm (1946-1954). Sau gần 1 năm làm việc theo hướng ấy, tôi làm được một tổng mục các bài đăng trên các ấn phẩm dạng báo chí xuất bản ở miền Bắc trong 5 năm, từ 1954 đến 1958.

Năm 2008, khi tôi nhận lời soạn bộ “Biên niên hoạt động của Hội nhà văn Việt Nam”, tôi đã đề ra một cách viết khác, chứ không dùng bộ thư mục tư liệu ghi chép hồi 2006 nữa. Tuy vậy, kinh nghiệm ghi chép tập Thư mục kia cũng đã giúp tôi khá nhiều để biên soạn cuốn “Biên niên…” này.

Hiện nay cuốc “Biên niên…” đã ra mắt tập 1 (bản in giấy “Biên niên hoạt động văn học Hội nhà văn Việt Nam, tập 1: 1957-1975”, mỗi cuốn dày 1120 trang khổ 16x24 cm, Hội nhà Văn VN in 1.000 cuốn, in xong và phát hành tháng 12/2013).

Tuy vậy, tôi nghĩ tập thư mục này vẫn có ích cho những ai quan tâm. Khi đi tìm đọc một khu vực tài liệu nào đó, nếu ta có được ai đó chỉ cho một vài dữ kiện, ta sẽ thấy như có được một vài thứ làm vốn ban đầu, mặc dù về sau, khi đã thành chuyên gia về khu vực này, ta sẽ thấy mấy chứng từ kia chỉ là những cái rất nhỏ.

Bởi vậy, tôi quyết định công bố lên mạng thư mục ghi chép hồi 2006, tạm đặt tên là “Đời sống văn nghệ ở miền Bắc Việt Nam qua báo chí đương thời”. Việc ghi chép ở dạng thư mục này tất nhiên còn thiếu thốn rất nhiều. Song chắc hẳn sẽ có ích dù nhiều dù ít.   

Hà Nội, 12/8/2014

LẠI NGUYÊN ÂN

 

 

 

 

 

Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1937

 

Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1936

 

Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1935

Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1933-1934

Trần Văn Thùy, Nhật ký - Thanh Niên Xung Phong

Lưu Trọng Lư, Tác phẩm

 

 

Vũ Bằng: Các tác phẩm mới tìm thấy

Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1932

Mênh mông chật chội ...

Đọc lại người trước, đọc lại người xưa

Sống với văn học cùng thời

Nghiên cứu văn bản tiểu thuyết Giông Tố của Vũ Trọng Phụng

Phan Khôi Viết và dịch Lỗ Tấn

Phan Khôi - Tác phẩm đăng báo 1928

Phan Khôi - Tác phẩm đăng báo 1929

Phan Khôi - Tác phẩm đăng báo 1930

Phan Khôi - Tác phẩm đăng báo 1931

Văn học và phê bình

Tư liệu Thảo luận 1955 về tập thơ Việt Bắc

Hệ thống thể loại văn học ở Việt Nam từ sau 1945

 

 

 

 đọc:

Phan Khôi và cuộc thi Quốc sử của báo Thần Chung, Sàigòn 1929

Sự thể là, khi xem lại diễn tiến cuộc thi quốc sử được nhật báo Thần chung tổ chức trong năm 1929, người nghiên cứu hẳn phải nghĩ rằng cuộc thi này, từ ý đồ đến việc triển khai, không thể thiếu sự tham gia của những nhà báo khi đó đang bỉnh bút hay trợ bút cho toà soạn nhật báo này ở Sài Gòn, ví dụ Phan Khôi, Bùi Thế Mỹ, Đào Trinh Nhất, Ngô Tất Tố, v.v…

Đọc tiếp

Cuộc thi Quốc sử của báo Thần Chung

Cuộc thi quốc sử được báo Thần chung mở ra từ đầu tháng 7/1929, theo thời hạn thì kéo dài đến đầu tháng 12/1929, song không biết vì một lý do nào đó, của cuộc thi này hình như đã không có việc chấm và trao giải thưởng. Tuy nhiên trong việc tổ chức cuộc thi này, các phần việc như đề xuất ý tưởng, viết các bài thông báo, soạn các bản sự tích 30 nhân vật Việt sử,… chắc hẳn phải do những người am tường sử học trong và ngoài toà soạn như Bùi Thế Mỹ, Phan Khôi, Ngô Tất Tố, v.v… thực hiện.

Đọc tiếp

Liệu có thể xem Phan Khôi (1887-1959) như một tác gia văn học quốc ngữ Nam Bộ?

Điều nêu ra ở nhan đề bài này, sở dĩ phải đặt như một nghi vấn hơn là một khẳng định, bởi vì người viết những dòng này cũng như các đồng nghiệp trong giới nghiên cứu không thể không phải đương diện với một tập quán, tuy không mấy "khoa học" nhưng khá thông dụng trong việc biên soạn các bộ địa chí văn hoá hiện nay ở các tỉnh thành trong hầu khắp nước ta (những bộ địa chí  thường được xếp vào loại công trình cấp quốc gia, thường được cấp tiền tỉ từ ngân sách công), theo đó căn cứ để tính một tác gia văn học  vào trong số tác gia của địa phương mình thường là : a/ quê quán (thường tính theo quê cha, đôi khi xét thêm đến thuộc tính quê mẹ) , và b/ trên thực tế có sống và hoạt động văn học tại địa phương....

Đọc tiếp

 

Mênh mông chật chội, chật chội mênh mông

Chuyện một cơ quan chức năng ở địa phương nọ yêu cầu kiểm điểm một nhà văn đang cư trú tại địa phương mình vì nội dung một tác phẩm mới xuất bản của nhà văn ấy, chẳng hiểu sao cứ từng lúc từng lúc gợi thức trong tôi nhiều việc cũ, nối lại nhiều suy nghĩ vẫn bỏ dở, những điều tưởng chừng rất ít liên quan nhau...

Đọc tiếp

 

 

Những bài viết gần đây

 

Nghe Lại Nguyên Ân nói chuyện:

với Thụy Khuê về đề nghị chuyển các hội văn học nghệ thuật về đời sống dân sự
về hoạt động báo chí của Phan Khôi ở Nam Kỳ
về hoạt động của Phan Khôi trên các báo Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn và Trung Lập

về hội thảo thơ Bích Khê

Sách đã in