300 NĂM SINH TÁC GIẢ CÔNG DƯ TIỆP KÝ

 

Cái điều gọi là sự hướng về nguồn ở bọn hậu thế chúng ta, dẫu ta muốn nó là một thứ ý thức, thì nó vẫn tuân theo luật nhớ quên thất thường. Người hiện tại chúng ta ước lệ với nhau lấy năm chẵn làm mốc tưởng niệm các bậc tiền nhân. Vậy thì năm 1997 này chính là chẵn 300 sinh Vũ Phương Đề, tác giả CÔNG DƯ TIỆP KÝ

 

***

 

Năm sinh 1697 của Vũ Phương Đề được người ta suy ra từ những ghi chú về tuổi của người đỗ đạt: ông đỗ tiến sĩ khoa Bính Thìn năm Vĩnh Hựu thứ 2 đời Lê Ý Tông (1736), lúc ấy 39 tuổi. Trong thư tịch cũ, Vũ Phương Đề được nhắc đến không nhiều. Chỉ biết ông làm quan thời Lê-Trịnh, có thời gian làm Tham chính sứ Sơn Nam; chức tước cao nhất hình như là Đông các đại học sĩ. Tác phẩm của ông cũng chỉ còn biết có bộ Công dư tiệp ký, soạn xong vào năm 1755.

 

Quê ông ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An (nay là Bình Giang) tỉnh Hải Dương. Phan Huy Chú nói: "Làng Mộ Trạch từ Vũ Hữu trở xuống đời đời đỗ đạt, gần 30 người; người Trung Hoa thường khen đất này là cái tổ tiến sĩ".

 

Trong cái làng Mộ Trạch nổi tiếng ấy, họ Vũ là họ nổi tiếng hơn cả. Mô tả vùng đất này − huyện Đường An thời Lê − Phan Huy Chú có những nhận xét thú vị. Theo ông, người xuất thân từ vùng này có nét nổi bật là: những người thuộc họ ngoại nhà chúa (họ Vũ có bà lấy Trịnh Cương sinh ra Trịnh Giang và Trịnh Doanh) và những người theo nghiệp võ thì đều nổi tiếng là hách dịch; còn những người làm thư lại và làm thợ thì đều tinh xảo tài giỏi.

 

Điểm qua một lượt những tác giả từ trung đại đến cận đại có gắn với thể văn mà Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú gọi là "truyện ký" (còn thời chúng ta thì gọi là văn xuôi tự sự, văn xuôi kể chuyện), điều ngạc nhiên là xứ Hải Dương (cũ) đóng góp nhiều tài năng hơn cả: Nguyễn Dữ, người viết Truyền kỳ mạn lục, quê Thanh Miện; Vũ Quỳnh − sử gia, có dự vào việc tu chỉnh Lĩnh Nam chích quái, quê làng Văn Giang, nhiều năm sống và dạy học ở Đường Hào; Phạm Đình Hổ, tác giả Vũ trung tuỳ bút Tang thương ngẫu lục, quê huyện Đường An; Phạm Quý Thích, tác giả Tân truyền kỳ lục, quê huyện Đường Ân; Phạm Đình Dục, tác giả Vân nang tiểu sử, cũng quê gốc Đường An … Vũ Phương Đề với Công dư tiệp ký đương nhiên thuộc trong số chùm tác giả và tác phẩm này.

 

Tên sách Công dư tiệp ký có nghĩa là ghi nhanh lúc rỗi việc công. Cái nhan đề cho thấy tác giả bảo rằng mình dù sao cũng đang bận việc quan (không phải như trường hợp ông nhà nho họ Phạm lúc trời mưa bó cẳng ngồi nhà mài mực viết "tùy bút trong mưa"). Diện mạo nguyên tác của Vũ Phương Đề chi tiết ra sao, ngày nay chưa ai dám cả quyết. Là vì sách gốc của họ Vũ thì nay không còn, nhưng nội dung tác phẩm của ông lại được bảo quản theo một cung cách riêng, đặc trưng cho hoạt động trứ thuật thời trung đại: người ta vừa chép lại của ông, vừa bổ sung, sửa đổi. Lâu dần, sách cũ mục nát, thất tán, chỉ còn lại những truyền bản, nhưng chúng không phải là "nguyên văn", "nguyên cảo, "nguyên tác".

 

Nguồn xác nhận đáng tin cậy hơn cả về nguyên bản Công dư tiệp ký có lẽ là ở Phan Huy Chú. Ông cho biết sách của Vũ Phương Đề gồm 43 truyện, xếp theo 12 loại. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, họ Phan rất nhiều lần dẫn Công dư tiệp ký, nhất là trong các phần Dư địa chíNhân vật chí, khi nói về đất và người các xứ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương.

 

Mỗi truyện trong sách của Vũ Phương Đề nói về một người; số người được ông nói đến nhiều nhất là các danh nhân họ Vũ làng Mộ Trạch. Như mọi kẻ sĩ đã từ làng quê đi ra thiên hạ, Vũ Phương Đề làm "truyện ký" thay vì soạn "phả ký"; tuy thế, những phần đầu sách vẫn phảng phất phả ký. Mở đầu là truyện vị thủy tổ Vũ Hồn quê Phúc Kiến được nhà Đường cử sang làm kinh lược sứ Giao Châu, rồi tìm đến định cư ở Mộ Trạch. Sau đó là một loạt truyện về các thế gia danh gia xuất thân từ đây: Vũ Hữu, Vũ Dự, Vũ Quỳnh, Vũ Phong, Vũ Duy Chí, Vũ Công Đạo, Vũ Duy Đoán, Vũ Đăng Hiển v.v… Ngay những người như Lê Nại, Lê Như Hổ, Lê Cảnh Tuân, Lê Quang Bí, thì sở dĩ tác giả chép chuyện về họ dường như cũng vì họ đều là cháu ngoại họ Vũ ở Mộ Trạch cả.

 

Nhưng tầm mắt một người đã đi làm quan ở kinh đô và ở các xứ ngoài cố nhiên không chỉ chăm chăm nhìn vào dòng họ mình, dù rất hiển vinh. Vũ Phương Đề viết các chuyện về rất nhiều người khác, trước hết là những người hiển đạt, những người mà cuộc đời có một nét gì đó nổi bật, nhất là về khí tiết, chí khí. Cũng hấp dẫn ngòi bút người chép chuyện là những gì lạ và kỳ. Là nhà nho thì phải chống dị đoan, nhưng rất đông nhà nho cầm bút ghi truyện ký lại rất ham ghi những chuyện quái dị, thần kỳ. Dưới mắt họ, các truyện ký dần dần biến thành truyền kỳ, dù họ có vẻ muốn cưỡng lại. Vũ Phương Đề có lúc ghi một câu vào cuối truyện: "Truyện này coi như một truyện hoang đường", hoặc: "Trong sự tích ông (Lê Như Hổ) có một vài việc xem ra là ngoa truyền, nhưng là do người trong họ ông nói ra, mà lại đúng với lời các người già trong thôn ấp, nên lược chép ra đây…". Cứ như vậy, các nhà văn nho sĩ − mà Khổng Tử răn phải "tránh xa" và "miễn bàn" chuyện quỷ thần − lại vẫn là cái giới duy nhất ghi lại trên giấy trắng mực đen các chuyện kỳ quái, hoang đường, các mẩu thần thoại, truyền thuyết trong dân gian. Vũ Phương Đề có lẽ là người sớm nhất ghi lại các chuyện "Hồn Trương Ba da hàng thịt" (gắn nó với các ngôi đền thờ Đế Thích ở xã La Chàng huyện Thiên Thi và xã Liên Hạ huyện Đường Hào); chuyện phát tích của Đinh Tiên Hoàng, của họ Trần ở Tức Mạc; sự tích hồ Ba Bể ở Bắc Cạn và hàng loạt sự tích khác. Qua cuốn sách của ông, người ta cũng thấy xuất xứ của những ông "trạng" không qua thi cử (trạng vật, trạng cờ…), có lẽ đang xuất hiện ngày một nhiều dưới thời vua Lê chúa Trịnh.

 

Trước Vũ Phương Đề, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVII) có định hướng rõ rệt là sáng tác (và phóng tác) truyền kỳ. Công dư tiệp ký không đi theo hướng của Nguyễn Dữ mà theo hướng của Lĩnh Nam chích quái Việt điện u linh (thế kỷ XIV). Đây là hướng làm sách tư liệu dã sử. Công dư tiệp ký suốt mấy trăm năm qua đã trở thành một thứ điểm tựa để rất nhiều soạn giả dựa vào, bổ sung, trích lục. Theo nhà nghiên cứu Trần Nghĩa (Tạp chí Hán Nôm, 1996, số 4) thì cho đến nay có thể kể tên hàng chục cuốn sách, cả chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ, có gốc gác từ tác phẩm duy nhất này của Vũ Phương Đề. Ở thế kỷ XVIII-XIX là các cuốn Tục biên (hay Hậu biên) của Trần Quý Nha, Vũ Khâm Lân: Danh thần truyện ký; Danh thần danh nho truyện ký; Chư gia phát tích địa; Lịch đại danh thần sự trạng; Thần quái hiển linh lục; Thính văn dị lục; Bản quốc dị văn lục; Việt tuấn giai đàm; Đại Nam kỳ truyện (hầu hết đều không ghi tên soạn giả). Đầu thế kỷ XX là Nam thiên trân dị tập (1917) của Vũ Xuân Tiên (ông này cũng trong họ Vũ ở Mộ Trạch), Nam hải dị nhân liệt truyện diễn âm (1912) của Phan Kế Bính…

 

Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề hiển nhiên là một cuốn sách có sức kích thích sinh sản mạnh. Vì sao vậy? Nếu vì văn chương hay, thì đây là chỗ cho sự phân tích của các nhà nghiên cứu chuyên về văn xuôi chữ Hán ở Việt Nam thời trung đại. Cũng lại có thể nghĩ rằng lối viết của Vũ Phương Đề ở Công dư tiệp ký mang đặc tính trứ thuật của các tác giả trung, cận đại Việt Nam, theo đó "văn" vốn rất rộng: một định hướng ghi chép tư liệu dã sử là không nằm ngoài "văn". Mà cái hướng như thế, nhiều người sau lại có thể theo.

 

Đến đây, ta nên nghe mấy câu trong lời tựa tác giả đề một ngày lành tháng quá xuân (tháng ba) năm Cảnh Hưng thứ 16 (tức 1755):

"Thuần Phủ thường ngày thích nói chuyện, nên lúc rảnh việc công, bèn đem những điều nghe được, lại tìm những điều các nhà uyên bác đã ghi được, phàm được gì thì căn cứ vào đấy mà nói thẳng ra, biên góp thành thiên, đặt tên là Công dư tiệp ký. Văn và nghĩa có phần thiển lậu, không dám so bì với cao văn đại bút của cổ nhân. Nhưng trong sự lược ghi này có nhiều điều ngụ ý khuyên răn, cũng đủ để xem đọc những khi nhàn hạ…" (theo bản dịch của Đoàn Thăng).

 

Thời nay, nếu gặp một bản dịch Công dư tiệp ký, bạn đọc cố nhiên có thể xem chơi "những khi nhàn hạ". Còn những ai muốn tìm hiểu sâu về các khía cạnh văn hóa (địa phương chí, nhân vật lịch sử…) thì không thể "xem chơi" mà hiểu. Bởi ngay trong sự ghi chép của họ Vũ, nhiều dữ kiện (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích…) với khoảng cách thời đại và ngôn ngữ, đã trở thành những mã hiệu văn  hóa có một chiều sâu không dễ dò tìm. Ý nghĩa của những cuốn sách xưa cũ, đối với người hiện đại, thường là ở chỗ đó.

04/10/1997

● Báo “Thể thao & Văn hóa”  s. 92 (15/11/1997)