DƯƠNG QUẢNG HÀM VÀ BỘ MÔN VĂN HỌC SỬ VIỆT NAM

 

Về công trình Việt Nam văn học sử yếu (1943), công trình chủ yếu của nhà giáo, nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm (1898-1946), cho đến nay hầu như ít ai trong giới văn học lại nghi ngờ vai trò của nó như một trong những cuốn sách có thể được xem là sách gốc cho những ai mới bắt tay vào tìm hiểu văn học Việt Nam. Được tái bản hơn một chục lần cả trong nam ngoài bắc suốt 50 năm kể từ lần in đầu tiên, cho đến nay, nó có một vị trí, một ảnh hưởng không nhỏ trong sự hình thành nhận thức về văn học dân tộc ở nhiều thế hệ những nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội và văn hóa từng làm quen với nó từ trên ghế các loại nhà trường; điều này đã và chắc sẽ còn có thêm minh chứng là các trang hồi ký của những lớp người ấy.

 

Tuy được in lần đầu vào năm 1943, nhưng bản thảo đã được tác giả hoàn thành từ 1939 (đây là căn cứ vào hồi ức của người trong gia đình tác giả; trên văn bản thì lời dẫn của tác giả ghi tháng 6-1941) và nếu cố gắn công trình này với tất cả những công trình của Dương Quảng Hàm về văn học sử Việt Nam, thì phải nói là nó đã được tác giả khởi thảo từ đầu những năm 1920, sau khi tốt nghiệp khóa đầu tiên trường Cao đẳng sư phạm, về dạy học ở trường Trung học bảo hộ ở Hà Nội (trường Bưởi). Có thể nói là tác giả đã đi từ những cuốn sách giáo khoa cùng loại nhưng có quy mô nhỏ hơn, yêu cầu bao quát thấp hơn như Quốc văn trích diễm (in lần thứ hai 1925), Việt văn giáo khoa thư bậc cao đẳng tiểu học (in lần đầu 1940) để đi tới bộ Trung học Việt văn giáo khoa thưViệt Nam văn học sử yếu là quyển I, cùng với nó để thành trọn bộ là quyển II: Việt Nam thi văn hợp tuyển.

 

Phải nói rằng hoạt động biên khảo ít nhiều chuyên biệt này (soạn sách giáo khoa) của Dương Quảng Hàm là đồng thời (tuy khởi đầu có thể là hơi muộn hơn) so với một loạt những hoạt động học thuật mạnh mẽ, sôi động suốt nửa đầu thế kỷ XX mà nội dung là kiểm lại di sản văn học, di sản văn hóa tinh thần của người Việt từ quá khứ đến đương thời. Nói về giai đoạn này, lâu nay sách báo nghiên cứu thường chỉ đề cập đến những sự kiện như là sự ra đời của nền văn xuôi nghệ thuật mới và "thơ mới" mà còn chưa cho thấy thật rõ vai trò của những hoạt động học thuật này, nó là một nền học thuật mới, trên thực tế đã làm cơ sở cho những hoạt động đổi mới ở sáng tác. Cho đến nay vẫn có thể hình dung mà không sợ sai lầm rằng ngay những tên tuổi hàng đầu của văn xuôi mới và thơ mới cũng phải nể trọng các học giả tên tuổi cùng thời.

 

Việt Nam văn học sử yếu không phải là quyển sách duy nhất trong loại của nó, ngay ở đương thời, nếu ta nhớ đến một loạt cuốn sách hoặc bài vở khảo cứu của những tác giả như Phan Kế Bính, Bùi Kỷ, Đào Duy Anh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Phan Khôi, Lê Dư, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Đổng Chi, Ngô Tất Tố, v.v, và v.v… Đề tài về tương quan, tương hỗ, thừa kế giữa Việt Nam văn học sử yếu và toàn bộ sách báo khảo cứu đương thời hẳn là một đề tài thú vị mà ở đây xin tạm gác sang một bên để nêu một nhận xét: dường như ngành nghiên cứu văn học, nhất là bộ môn văn học sử Việt Nam, cũng chỉ mới ra đời từ những thập niên này (từ 20 đến 40) của thế kỷ XX.

 

Phải chăng nhận xét này là hồ đồ? Một nền văn học, một nền trứ thuật đã có lịch sử 10 thế kỷ (đấy là chỉ nói văn học viết) lẽ nào đến lúc này mới hình thành ngành nghiên cứu lịch sử văn học? Phải như vậy chăng, và nếu vậy thì tại sao chứ? Có lẽ các nhà nghiên cứu chuyên về thời trung đại và cận đại sẽ làm sáng tỏ điều này tốt hơn tôi. Dẫu sao tôi cũng in góp ít lời bàn, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã có của các bậc đi trước chứ không phải kết quả nghiên cứu trực tiếp của bản thân tôi. Xin nói rõ hơn: tôi sẽ dựa vào các khảo sát của nhà thư tịch học Trần Văn Giáp (1902-1973) trong công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (tập I: 1984; tập II: 1990).

 

***

 

Trong nền trứ thuật thời trung đại, lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu là sử. Ở công trình nói trên, học giả Trần Văn Giáp kiểm được tới 64 bộ sách thuộc loại thông sử, trong đó có những bộ rất lớn do những tập thể hoặc cá nhân sử gia kiêm quan chức có tầm học vấn cao, biên soạn. Nếu kể thêm các sách nói về khảo cổ, về tổ chức nhà nước, pháp lý, quân sự − là những tư liệu lịch sử quý cho đời sau − con số ấy lên đến 99 bộ. Lại kể thêm các sách nói về giáo dục, các sách gọi là "truyện ký" nhưng có nội dung sử, các bộ phả ký, − con số lên tới 165 bộ. Nếu ta cộng thêm những sách mà Trần Văn Giáp xếp vào phần địa lý (dư địa chí, sơn xuyên, lý lộ, địa phương chí) − mà hậu thế hẳn phải dùng như tài liệu lịch sử − ta thấy con số lên đến 202 bộ sách, chiếm gần một nửa số sách Hán Nôm mà Trần Văn Giáp đã kiểm (202/428 bộ sách).

 

Có thể nêu một nhận xét: phần lớn các trứ tác sử học thời trung đại đều thuộc loại sử ký, sử biên niên, ưu tiên ghi chép các sự kiện và nhân vật liên quan trực tiếp đến chính sự. Tính chủ động, chủ kiến của sử gia thường tập trung vào việc nhận định, đánh giá (những "nhận định, đánh giá" này thường nằm ngoài văn bản, hoặc chỉ gói gọn trong văn bản dưới dạng vài lời phê thật ngắn) để xem các triều đại này hay khác là chính hay ngụy, để ghi thành bản kỷ hay ngoại kỷ, các nhân vật này là minh quân, lương tướng, công thần hay là hôn quân, tặc thần, bạn nghịch, v.v... Chẳng những chỉ hoàn toàn đứng bên trong đời sống chính trị một quốc gia mà thôi, sử gia thời trung đại ở ta còn hầu như chỉ hoàn toàn đứng bên trong và tự đồng nhất với lập trường chính thống của triều đại đương quyền, dùng cái nhìn thuần túy "nội quan" này để mô tả các biến cố từ quá khứ đến hiện tại. Mặc dù thấm nhuần tư tưởng về lẽ biến dịch của sự vật, thừa nhận tính tất yếu của những biến chuyển từ trị sang loạn, từ loạn sang trị trong đời sống chính trị của quốc gia, nhưng sử gia trung đại dường như vẫn hình dung mọi biến dịch ấy là nằm trong một trạng thái tĩnh tại phổ quát hơn − cái tĩnh tại được cảm nhận như sự lặp lại của các chu kỳ biến dịch, và được ghi dấu bằng những mốc thời gian tuần hoàn. Khó mà tìm thấy ở sử gia trung đại một ý niệm về tiến triển, tiến hóa, càng khó tìm trong các bộ sử trung đại những dòng phân tích về các quá trình chiều sâu, từ động lực đến các hệ lụy của các biến cố lịch sử.

 

Trọng tâm ghi chép của sử ký, sử biên niên chỉ là những thay đổi về triều đại, về ngôi vị, về những gì liên quan đến hoạt động của nhà nước trung ương (triều đình). Do vậy có thể hiểu được là vì sao hàng loạt các phương diện của đời sống xã hội dân tộc như kinh tế, văn hóa, tôn giáo, kỹ nghệ, v.v… đã không trở thành đối tượng theo dõi ghi chép thường xuyên của các trứ tác sử học, ngay của sử ký, dù rằng đây đó, qua các bộ sách sử còn lại, vẫn có thể tìm được nhiều đoạn, nhiều chi tiết lẻ về các phương diện này.

 

Trong kho sách Hán Nôm còn lại, tính đến hết thế kỷ XIX, thậm chí cả  một số sách được viết vào đầu thế kỷ XX, tôi không thấy ông Trần Văn Giáp khảo đến một cuốn sách nào thuộc loại văn học sử hay văn hóa sử.

 

Cố nhiên, bằng vào các thư tịch Hán Nôm, có thể nói đến một bộ phận khá lớn những trứ tác mang tính học thuật, đề cập đến văn hóa, văn học, và do đó có thể nói đến một ngành nghiên cứu văn học hay ngữ văn học theo nghĩa rộng ở thời trung đại.

 

Dạng sớm nhất có lẽ là những bộ hợp tuyển thơ văn. Ở công trình của mình, Trần Văn Giáp nêu được 13 tên sách thuộc loại này. 10/13 tên sách thuộc về thơ, xưa nhất là Việt âm thi tập (1433), muộn nhất là Quốc triều thi lục (1929). Chỉ có hai bộ tuyển văn mà lại trùng nhau, kế thừa nhau: Hoàng Việt văn hải của Lê Quý Đôn như là tiền thân Hoàng Việt văn tuyển (1788) của Bùi Huy Bích. Và duy nhất một tuyển tập cho thể phú: Quần hiền phú tập (1457, trùng san 1729). Ở những bộ tuyển quy mô, công phu, có thể lệ biên soạn chặt chẽ, các soạn giả thường xếp các tác giả và tác phẩm theo các triều đại, từ xa xưa đến đương thời; điều này tự nhiên tạo ra ý niệm nào đó về tiến trình văn học, nhưng chưa thể xem các tuyển ấy như các bộ văn học sử.

 

Loại trứ tác gần gũi hơn cả với ngữ văn học hiện đại chính là những cuốn như Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa (của Pháp Tính), Thi vận tập yếu (của Phạm Thiệu), Tam thiên tự giải âm (của Ngô Thì Nhậm), Khâm định tập văn trích yếu (của nhiều soạn giả, khắc in thời Minh Mạng), Nhật dụng thường đàm (của Phạm Đình Hổ), Đại Nam quốc ngữ (của Nguyễn Văn San), Nam phương danh vật bị khảo (của Đặng Xuân Bảng), v.v… Theo mô tả của Trần Văn Giáp, đây đều là dạng những cuốn từ điển Hán - Nôm (Hán - Việt) hặoc từ điển chữ Nôm. Trong loại này không ít cuốn giữ vai trò của sách giáo khoa, tức là sách dạy chữ (nho), gần gũi với những cuốn được dùng rộng rãi như Nhất thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ học vấn tân, Ấu học ngữ ngôn thi, v.v…

 

Loại trứ tác gần với phê bình hiện đại chính là những bài tựa, bài bạt, đề từ…, ở đây, nếu trừ đi những lời lẽ gắn với nhu cầu khen ngợi, đề cao − như một nghi lễ giao tiếp, − vẫn thấy còn lại nhiều nhận xét phẩm bình có ích cho người nghiên cứu đời sau. Tuy vậy, loại trứ tác này thường xem xét tác phẩm một cách cô lập, tách khỏi tiến trình văn học. Nói đúng hơn là ở giới nhà nho còn chưa hình thành một kiểu tư duy nhằm hệ thống hóa các tri thức và dữ liệu về tiến trình văn học Việt Nam để có thể làm cơ sở cho những bài viết thuộc loại này.

 

Gần với kiểu nghiên cứu (và phần nào cả lý luận) ngày nay, trong di sản Hán Nôm, là những ghi chép mang tính chất tạp bút, được tập hợp trong những cuốn sách mà ông Trần Văn Giáp xếp vào loại sách có nội dung tổng hợp, gọi theo thuật ngữ thư mục học là loại thư. Ông đã kiểm và khảo khá kỹ 12 tên sách Hán Nôm thuộc loại này, như: Vũ trung tuỳ bút Quần thư tham khảo (của Phạm Đình Hổ), Sơn cư tạp thuật (khuyết danh), Lữ trung tạp thuyết (của Bùi Huy Bích), Lịch triều hiến chương loại chí (của Phan Huy Chú), Thoái thực ký văn (của Trương Quốc Dụng), Kiến văn tiểu lụcVân Đài loại ngữ (của Lê Quý Đôn)… Loại sách này, nếu nhiều nhà nghiên cứu trước và sau Trần Văn Giáp thường mô tả như là tuỳ bút, là thuộc thể ký (để vạch một dấu nối với thể ký hiện đại), thì Trần Văn Giáp lại muốn nhìn chúng như loại sách có tính chất như kiểu bách khoa thư. Chỗ khác biệt so với kiểu bách khoa thư của phương Tây, theo ông, chỉ là chỗ ở phương Tây người ta xếp các từ mục (về từng đối tượng miêu tả) theo một dấu hiệu hình thức hóa là vần chữ cái để tiện tra cứu, còn ở phương Đông thì các soạn giả thường chia riêng theo từng môn loại, tuỳ ý tác giả và nội dung cụ thể của mỗi cuốn sách. Cố nhiên, các cuốn sách nêu trên của tác giả trung đại Việt Nam còn là những cuốn bách khoa thư sơ sài, mỗi cuốn thường chỉ bao gồm được một số mặt trong muôn mặt hiểu biết mà đương thời có thể đã tích lũy được. Trong những nội dung được ghi chép ở các cuốn thuộc loại này có những ghi chép về sử, địa, phong tục, điển lễ, danh nhân, về kiến thức sách vở thánh hiền, về luật lệ từ chương, về học hành khoa cử, v.v… và v.v... Chỉ ở những phần nhất định mới có chỗ cho việc ghi chép các nhận xét, bình luận về văn học nói chung, hoặc về một vài tác giả, tác phẩm hay thể loại của văn học nước nhà. Ở Vũ trung tuỳ bút có các mục về học thuật, tự học, văn thể, thi văn, Sơn cư tạp thuật có các mục về thi pháp, học thuật; Lữ trung tạp thuyết giành 32 trong tổng 74 điều cho văn và sử; Thoái thực ký văn trong những mục về chế độ, nhân phẩm, tạp sự có đề cập đến văn học hoặc nhân vật liên quan đến văn học; Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục ở mục "thiên chương" có bàn về thơ văn Lý Trần, trong Vân Đài loại ngữ có các chương về văn nghệ ngữ, âm tự ngữ, thư tịch ngữ…

 

Chính Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, theo nhận định của Trần Văn Giáp, là hai nhà thư tịch học Việt Nam lớn nhất ở thời trung đại. Thiên Nghệ văn chí của Lê Quý Đôn trong sách Lê triều thông sử  và thiên Văn tịch chí của Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí đã kiểm, phân loại và thống kê được những thư tịch của tác giả Việt Nam còn được biết đến ở thời của hai nhà bác học ấy. Thư tịch chí cố nhiên là tối cần thiết cho nghiên cứu văn học, nhưng các thiên thư mục quý giá ấy vẫn chưa phải là tri thức văn học sử.

 

Ngoài các thành phần kể trên, cũng phải kể đến hoạt động sưu tầm khôi phục văn bản các tác phẩm dân gian và thành văn. Các sách của Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh về truyện dân gian, của Lương Thế Vinh về sân khấu dân gian, của Trần Danh Án, Ngô Đình Thái, Trần Doãn Giác, Vương Duy Trinh, Ngô Giáp Đậu… về thơ ca dân gian, hoặc công trình sưu tầm và khôi phục các tác phẩm của Nguyễn Trãi do Dương Bá Cung thực hiện, cho ta thấy cả một ngành sưu tầm văn bản có truyền thống ít ra là từ đời Trần (thế kỷ XIV).

 

Tóm lại, những nét sơ lược nêu trên cho thấy ở thời trung đại trong các hoạt động trứ thuật đã hình thành những bộ phận của nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu văn học. Tuy vậy qua tất cả các loại trứ thuật ấy, có thể nói là vẫn chưa thấy những dấu hiệu về sự hình thành loại tri thức về lịch sử văn học nước nhà, loại tri thức trực tiếp mô tả, diễn giải tiến trình văn học của cộng đồng xã hội người Việt qua các thời đại lịch sử. Có thể nghĩ rằng trong sinh hoạt văn học của giới nho sĩ bác học suốt thời trung đại, người ta không hề cảm thấy sự thiếu hụt ấy, do vậy chưa hề thấy sự cần thiết phải khai thác và chế biến những thông tin loại này từ những dữ kiện mà hiển nhiên là người ta biết rõ hơn hẳn so với các lớp hậu thế.

 

***

 

Chính việc chế biến, "sản xuất" ra loại thông tin, loại tri thức như vậy đã xuất hiện trong nền trứ thuật mới đầu thế kỷ XX, và thế hệ những học giả kiểu mới như Dương Quảng Hàm có vinh dự là lớp người Việt đầu tiên tham dự vào việc soạn thảo loại tri thức này về văn học dân tộc mình.

 

Và đây là một trong những kết quả của sự xúc tiếp với văn hóa và học thuật Âu Tây.

 

Ở trên đã nhận xét rằng sử gia trung đại dường như không động bút vào lĩnh vực nào khác hơn là chính sử, là biên niên các triều đại. Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn đối với một lĩnh vực văn hóa tinh thần như văn học lại là ở chỗ: sử gia trung đại ở ta và có lẽ ở khắp phương Đông còn chưa hình thành ý niệm về tiến hóa lịch sử. Ý niệm này cùng với phương pháp viết sử kiểu mới đã được du nhập vào nước ta do sự xúc tiếp với văn hóa và học thuật phương Tây, từ giữa thế kỷ XIX. Chúng ta đã nói đến những cuộc canh tân, đổi mới mô hình văn học do cuộc xúc tiếp này; bây giờ phải nói thêm một kết quả khác nữa, rõ ràng là đã thành tựu trước khi diễn ra các cuộc canh tân văn học. Kết quả đó nói gọn là sự đổi mới nền học thuật truyền thống (vốn in đậm cơ sở tư tưởng và mô hình hoạt động, dạng thức thể tài của văn hóa Trung Hoa cổ và trung đại), tạo ra một cảnh  quan học thuật mới, trong đó có sự thành lập những thể tài trứ thuật mới, mà một trong số các thể tài hầu như mới xuất hiện lần đầu này là bộ môn văn học sử.

 

Dương Quảng Hàm, cũng như hầu hết các học giả cùng thời, là thuộc thế hệ chuyển từ Hán học sang Tây học. Ở ông, cũng như ở các học giả cùng thế hệ, còn thấy dấu ấn khá đậm của Hán học, của Nho giáo, của cốt cách nhà nho. Tuy vậy, vốn Nho học của lớp người này là một học vấn đã được trung giới hóa bởi học thuật Âu Tây; đây không còn là dạng học vấn của các nho sinh thời lều chõng, những tín đồ hoàn toàn đứng bên trong học thuyết đó, văn hóa đó, − cái văn hóa mà ngoài nó ra các nho-sĩ-tín-đồ không thể nghĩ, không thể giả định được là còn có thể có văn hóa nào khác, học thuyết, học thuật nào khác. Ở lớp người như Dương Quảng Hàm, vốn Tây học giống như một hệ quy chiếu mới, có tác dụng về nhiều mặt, mà một trong những tác dụng đó là điều chỉnh lại quan hệ của họ đối với học vấn truyền thống, trung lập hóa nó, biến nó từ chỗ là vòm trời trí tuệ duy nhất sang chỗ là một trong những vòm trời đã biết, và do đó có thể không chỉ đứng bên trong, hoàn toàn như một đệ tử để tiếp nhận những lời thiêng của thánh hiền, mà còn có thể đứng ngoài, xem thánh hiền, tiền hiền như những con người xã hội cụ thể tuy là những người sáng tác, trứ thuật; − từ đấy mới thực sự nảy sinh khả năng mô tả nó, tiếp cận nó, nghiên cứu nó như một thực thể văn hóa.

 

Nhìn vào dàn mục sách Việt Nam văn học sử yếu, có thể đoan chắc rằng lối tiếp cận và trình bày toàn bộ văn học Việt Nam của tác giả về căn bản là phương pháp của học thuật Âu Tây. Ở đây có sự phân biệt sáng tác ngôn từ dân gian ("văn chương truyền khẩu", "văn chương bình dân") với văn học thành văn (viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ), ở đây gọi là "văn chương bác học". Ở đây văn chương thành văn được mô tả theo tiến trình qua các mốc phân kỳ lịch sử. Việc mô tả theo tiến trình, ở đây, có thể gợi nhớ đến bóng dáng kiểu ghi của sử ký, sử biên niên, nhưng thực chất không hoàn toàn chỉ là như vậy. Ngoài ra, tác giả còn giành gần 20 chương trong 6 thiên, chiếm toàn bộ chương trình một năm học (trong toàn bộ chương trình gồm 3 năm học) để đề cập đến những nhân tố được xem là quan trọng đối với việc mô tả đặc tính của văn học Việt Nam. Đó là những ảnh hưởng văn hóa và văn học có tính chất quốc tế đã từng chi phối sự phát triển của văn học này (các đề mục: "ảnh hưởng của nước Tàu", "ảnh hưởng của nước Pháp"); đó là học chế và khoa cử theo Nho học, các lối văn cử nghiệp viết bằng chữ Hán; đó là những đặc điểm địa phương của tiếng Việt; đó là các đặc điểm về loại hình loại thể văn học (các đề mục: "thi pháp Tàu và âm luật của ta"; "phéo đối và thể phú"; “các thể văn riêng của ta: truyện, ngâm, hát nói, ca Huế, hát bội”; điển cố như là "tính cách chính của các tác phẩm văn chương"…). Hiển nhiên đây là những đề mục phân tích định tính, được đề xuất trên cơ sở khái quát toàn bộ văn học trung đại, và được trình bày như là những chỉ dẫn về "khóa mã" cho việc nhận dạng nền văn học này khi tìm hiểu nó theo tiến trình niên biểu.

 

Như vậy, cách tiếp cận của tác giả Dương Quảng Hàm là cách tiếp cận theo phương pháp của học thuật Âu Tây; tác giả không chỉ đứng bên trong mà còn đứng bên ngoài để mô tả nó như một đối tượng khách quan. Cố nhiên trong sách Việt Nam văn học sử yếu cũng còn khá nhiều dấu vết của nhãn quan Nho giáo trong cách phẩm bình về những tác phẩm nhất định. Nhưng trên nét lớn, nó là công trình được viết không phải dưới ánh sáng của ý thức hệ Nho giáo, mà là được viết trong sự gián cách với ý thức hệ ấy, được viết từ các hướng tiếp cận văn hóa học và nghệ thuật học.

 

Đây có lẽ chính là phần đóng góp quan trọng nhất, tuy không dễ thấy, của tác giả Việt Nam văn học sử yếu vào sự hình thành bộ môn văn học sử Việt Nam. Điểm này cố nhiên cũng không chỉ là sáng kiến độc nhất của riêng Dương Quảng Hàm so với các công trình, bài vở của các học giả người Việt đương thời. Nhưng đề tài về sự tiếp thu, "tổng hợp" thành quả nghiên cứu chung của ông ở công trình này, là một đề tài rộng, cần được đề cập riêng ở một bài viết khác.

 

25/6/1993

● Tham luận tại Hội thảo khoa học kỷ niệm 95 năm sinh Dương Quảng Hàm, Hà Nội, 14/7/1993