KHẢ NĂNG ĐIỀU HÒA

(về khuynh hướng xã hội trong văn xuôi Thạch Lam)

 

Ở văn học thời kỳ 1930-1945, cả công khai lẫn  bí mật, có thể thấy rằng cái gọi là thái độ "nghệ thuật vị nghệ thuật" chỉ là một cái gì rất bề ngoài. Những hiện tượng hoặc nhóm phái mang sắc thái vị nghệ thuật, tuy cũng có thể kể tên, nhưng rất ít có thanh thế, và vì ít được hưởng ứng rộng rãi nên thường sớm tàn lụi, thui chột. Còn lại, tất cả các nhóm phái và dòng phái lớn như Tự Lực văn đoàn, như các nhà "tả chân" quần tụ quanh các loại ấn phẩm sách báo của nhà xuất bản Tân Dân, hoặc bộ phận văn học cách mạng trong bí mật, tất thảy đều vị nhân sinh, đều bộc lộ rõ khuynh hướng xã hội, cố nhiên là theo những hướng khác nhau, ứng với quan niệm xã hội của các nhà văn gần gũi nhau trong từng dòng phái ấy.

 

Chẳng hạn, các tác gia chủ chốt của nhóm Tự Lực, bản thân họ là tiểu tư sản trí thức, nhưng trong sáng tác và trong hoạt động văn hóa, họ đã đứng ở lập trường của giai tầng trung lưu cấp tiến, họ nhìn thấy thực trạng lạc hậu của xã hội và muốn tìm hướng phát triển xã hội ở việc hiện đại hóa theo mô hình xã hội Âu Tây; điều họ quan tâm nhiều hơn cả, − với tư cách nhà văn và nhà hoạt động văn hóa − là vận động để xây dựng một văn hóa nhân cách hiện đại, đặt căn bản ở những cá nhân tự do, phát triển về năng lực và có cá tính độc lập. Trong cái cương lĩnh mượn của phương Tây ấy, nếu diễn đạt theo lối định thức hóa của "chủ nghĩa tam dân", thì họ ưu tiên chú ý đến nội dung dân quyền (mà mục tiêu là tự do), trong khi các nhà văn "tả chân" ưu tiên chú ý đến dân sinh (mà mục tiêu là hạnh phúc), còn các nhà văn cách mạng trong bí mật thì ưu tiên chú ý đến nội dung dân tộc (mà mục tiêu là độc lập).

 

Các nhà văn "tả chân", bản thân cũng là tiểu tư sản trí thức (nếu xét thêm gia cảnh thì thấy nhiều người trong số họ hơi nghiêng về phía dân nghèo), trong sáng tác họ hầu như đứng ở chỗ đứng của các tầng lớp dân nghèo đô thị và thôn quê; họ cũng thấy rõ thực trạng lạc hậu của xã hội và có yêu cầu cải cách; nhưng nét đặc trưng nổi bật là tầm mắt họ đổ dồn vào sự nghèo khổ, vào những bất công xã hội mà các tầng lớp dân nghèo dưới đáy xã hội phải gánh chịu; họ không đặt cương lĩnh phát triển xã hội ở đâu xa ngoài việc giải thoát các tầng lớp dưới khỏi sự nghèo khổ kinh niên, khỏi những áp bức và bất công xã hội; trong đám kẻ thù mà họ hình dung thì tuy có cả đế quốc, cả quan lại phong kiến, nhưng rõ hơn cả thì đó là người giàu, là bọn giàu có mà theo ý họ thì chính các tác giả Tự Lực văn đoàn lại là đại diện, là phát ngôn nhân, thậm chí có vẻ còn đứng chân trong lớp "trưởng giả" đó nữa.

 

Như thực tiễn đời sống văn học đường thời tỏ rõ, giữa hai nhóm nhà văn ấy đã có những xung đột, những va chạm có khi gay gắt.

 

Thế nhưng giữa họ vẫn có nhiều điểm chung; những nhà văn thuộc nhóm này khi viết những tác phẩm cụ thể vẫn cứ tỏ ra gần gũi với tư tưởng hoặc sáng tác của các nhà văn thuộc nhóm kia, và ngược lại. Giữa họ có khá nhiều điểm nối, cầu nối.

 

Có thể thấy một "cầu nối" như vậy ở sáng tác của Thạch Lam.

 

Ta hãy bắt đầu từ việc lưu ý đến một dữ kiện hẳn không mấy ngẫu nhiên, tạm gọi là sự "biệt đãi" mà hậu thế gần, tức là công luận của văn học dưới chính thể mới sau 1945, nhất là sau 1954 ở miền Bắc, giành cho di sản sáng tác của Thạch Lam. Trong số mấy nhà văn là anh em ruột thuộc gia đình Nguyễn Tường có chân trong văn đoàn Tự Lực, đây là người duy nhất mà tác phẩm được in lại, được đưa vào Hợp tuyển, được đề cập đến trong các bài vở nghiên cứu, dưới thời chính thể mới, và ở suốt chặng đường bốn chục năm văn học và tư tưởng mà hôm nay không mấy ai không thừa nhận là vốn còn biểu hiện hẹp hòi, thô bạo đối với các di sản, − thì sáng tác của nhà văn này hầu như vẫn không bị hoặc rất ít bị kỳ thị. Về sự kiện này, thật ra cũng đã có những sự giải thích và biện minh mà chung quy là: Thạch Lam mất sớm, không tham gia hoạt động chính trị (chống đối) như mấy người anh, kể từ những năm 1940; sáng tác của Thạch Lam "có nhiều yếu tố nhân đạo và hiện thực", thể hiện lòng thương, sự cảm thông đối với người nghèo, v.v… và v.v. Những cách giải thích có căn cứ này, tuy vậy vẫn chưa xác định mức khác biệt của Thạch Lam so với mấy ông nhà văn Nguyễn Tường kia, cũng chưa cho biết mức gần gũi của ông với các nhà "tả chân" cùng thời. Là người trong Tự Lực văn đoàn, chả lẽ Thạch Lam lại khác biệt đến mức không chia sẻ quan điểm chung, vốn bị chi phối bởi các cây bút chủ chốt?

 

 Hay là bởi Thạch Lam "vị nghệ thuật"?

Quả thật Thạch Lam trọng nghệ thuật, trọng công việc của nghệ sĩ, trọng tính văn hóa trong nhiều mặt của đời sống cộng đồng, và trọng ở mức cao hơn so với không ít nhà văn cùng thời. Nhưng đấy chung quy cũng chỉ là ý thức về nghề nghiệp, ý thức về nghệ thuật chứ không phải một chủ trương duy mỹ.

 

Phải nhận rằng trên nét lớn, sáng tác của Thạch Lam thể hiện một lập trường xã hội khá tương đồng với mấy tác gia chủ chốt của Tự Lực văn đoàn. Nhưng ở sáng tác của ông lại có những nét gần gũi ít nhiều với các nhà "tả chân". Tuy thế, sự chú ý đến người nghèo, việc mô tả họ làm nhân vật chính trong một số tác phẩm, sự trọng thị giành cho họ và sự cảm thông với những đau khổ của họ, − vẫn chỉ là những điểm gặp gỡ ít nhiều bề ngoài, giữa ông và các nhà "tả chân".

 

Ta hãy chú ý đến một sự kiện là hệ đối lập "giàu / nghèo" vốn định hình từ lâu trong nếp nghĩ của phần đông dân chúng, với hàm nghiã kép − xã hội học và giá trị đạo đức học: giàu thường xấu (tham lam, độc ác…), nghèo thường tốt (lương thiện, thương nhau…) − hệ đối lập dân gian này có sức sống rất dai dẳng, thường ngấm ngầm hiện hình trở lại trong những phong trào xã hội và văn hóa thậm chí được trang bị những lý thuyết tối tân. Các nhà văn "tả chân", tuy không phải ai cũng vậy, tác phẩm nào cũng vậy, nhưng xu thế chung là chấp nhận hệ đối lập kiêm hệ giá trị ấy. Các nhà văn chủ chốt của Tự Lực văn đoàn, tuy không bỏ qua, nhưng thường không nhấn mạnh đến nó, và có khi cãi lại nó (Điều này có thể hiểu được, vì họ quan tâm trước hết đến những vấn đề, những nhiệm vụ xã hội đặt ra cho tầng lớp trung lưu).

Ở khía cạnh này, Thạch Lam có vẻ gần gũi nhất với các nhà tả chân, nhưng thật ra lại có rất nhiều khác biệt.

 

Khi miêu tả những người nghèo, dù đấy là nông dân (mẹ Lê trong truyện ngắn cùng tên, chị Sen trong Đứa con, Lan trong Tình xưa, bác Hiên trong Gió lạnh đầu mùa) hay dân nghèo thành thị (cô Tâm trong Cô hàng xén, Liên trong Một đời người, hai cô gái điếm trong Tối ba mươi, người phu xe trong Một cơn giận…), Thạch Lam tỏ rõ cảm tình đối với họ, cảm thông với sự nghèo khổ, lạc hậu, thiệt thòi của họ. Nhưng dù sao thì đó cũng là mối cảm tình và cảm thông của người ở tầng lớp khác (để phân biệt, có thể đối chiếu với tác phẩm của Nguyên Hồng: nhà văn này thể hiện mình như là người cùng một tầng lớp với đám dân nghèo đô thị). Cái nhìn của người ở tầng lớp khác ấy hình như lại cố ý chỉ thấy và chỉ nói đến những nết tốt, những nỗi niềm đáng thông cảm ở họ (với Nguyên Hồng, điều này còn dễ hiểu hơn).

 

Ta biết rằng ngòi bút Thạch Lam có thể miêu tả rất cụ thể, chi tiết các món ăn truyền thống ở Hà Nội 36 phố phường, biết tên gọi biết công thức pha chế của nhiều loại gia vị, thực phẩm, biết đến tận cái tên gọi của một thứ lá chỉ mọc ở cách chân tường là "lá mảnh cộng"…, vậy mà ngòi bút ấy, khi viết các truyện ngắn lại không mấy chú trọng khai thác năng lực quan sát tinh vi cụ thể. Ngòi bút ấy tả người nghèo mà không muốn cho độc giả thấy những mảnh rách, những mụn vá trên áo quần họ, vết bùn lấm trên tay chân, mặt mũi họ, không muốn cho độc giả nghe thấy giọng nói hoặc ngọng nghịu hoặc chao chát, với những lời bẳn gắt tục tằn thô lỗ của họ. Một cái nhìn khá lạ lùng: không muốn nhìn sát tận nơi hoặc không muốn độc giả nhìn sát tận nơi. Có thể bảo đây là hạn chế (ví dụ về vốn hiểu biết, quan sát, về khả năng miêu tả ngôn ngữ, miêu tả lời ăn, tiếng nói…) mà cũng có thể bảo là sự tự kiềm chế của nhà văn.

 

Những thành phần mà xã hội đương thời có thể liệt vào hạng người giàu, ở văn xuôi Thạch Lam thường không xuất hiện ở dạng tham lam, tàn ác như là những thuộc tính hữu cơ. Nét đột xuất nhất về sự độc ác của hạng người này là chi tiết đứa con cụ Bá thả chó ra cắn mẹ Lê, nhưng sự việc chỉ được kể vắn tắt qua lời bà mẹ nghèo, mà cũng không phải là kể với một lòng căm phẫn hay hận thù gì lớn. Bà chủ nợ của gia đình chị Sen (trong Đứa con) tuy có riết róng với người ở, nhưng có vẻ như mối "mâu thuẫn" giữa chủ nợ với con nợ không phải là lúc nào cũng căng thẳng… Ngoài một vài ví dụ tương đối rõ như vừa nếu, còn lại, nhìn chung Thạch Lam ít khi mô tả các va chạm giữa người giàu với kẻ nghèo thành xung đột chính của câu chuyện. Mà nếu có động đến những va chạm ấy thì cách thức cởi nút của Thạch Lam là tìm cách hòa giải. Người nghèo như mẹ con chị Sen thì thiếu tiền, phải đi vay nợ chịu lãi, người giàu như vợ chồng bà Cả chẳng hạn thì lại hiếm con. Ước vọng về một đứa con có thể làm nguội, làm "xói mòn" tính nết riết róng, kiệt xỉn của bà chủ nợ khi bà được bồng đứa con của người nhà nghèo đang là con nợ của bà, khiến bà trở nên hào phóng: đã không thu lễ tết như lệ thường lại còn cho tiền may áo cho đứa bé. Đứa con, ước mong có con trở thành điểm chung của cả người giàu lẫn kẻ nghèo, và điểm chung này là cơ sở cho sự hòa giải. Hòa giải gần như là giải pháp xã hội và đồng thời là giải pháp nghệ thuật của Thạch Lam trong bút pháp dựng truyện. Ở một số truyện như Gió lạnh đầu mùa, giữa hai bà mẹ − một "giàu" hơn tí chút, một nghèo hơn tí chút − điểm chung là sự hướng thiện, sự chân thật, sự "biết điều" − nó cũng là cơ sở để hòa giải.

 

Với truyện Người đầm, có thể nghĩ là Thạch Lam còn muốn một sự hòa giải cho xung đột dân tộc. Về truyện này, cách giải thích vào năm 1957 của Nguyễn Tuân,(1) tuy đầy thiện ý, vẫn có vẻ không ăn nhập với tinh thần tác phẩm. Có thể cái ý tứ chính là "tôi mơ màng ao ước người Pháp nào cũng tốt như bà… và hai giống người khác nhau trên mảnh đất này sẽ hiểu biết nhau, coi nhau thân như anh em một nhà". Hòa giải − đó vẫn là ý hướng của ngòi bút Thạch Lam.

 

Oán thù nên cởi chứ không nên buộc − ấy là cái ý đọc ra được từ truyện Đứa con, truyện Người đầm, và cả truyện Một cơn giận. Nhà báo tên là Thanh, một lần vì bực với người phu xe mà khiến ông ta bị cẩm phạt, rồi lâm vào cảnh nạn nọ tiếp nạn kia. Anh nhà báo hối hận, tìm đến tận nhà kẻ bất hạnh để giúp đỡ, mong chuộc lại lỗi lầm.

 

"Người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng" (Một cơn giận); người ta có thể thành kẻ ăn cắp một cách dễ dàng (Sợi tóc); người ta có thể dễ dàng thành kẻ phụ tình (Tình xưa), phụ bạc cả người mẹ lẫn cái gốc nhà quê (Trở về), thậm chí bội bạc lý tưởng cũ, đồng chí cũ (Người bạn cũ); người ta có thể dễ dàng trở nên sa cơ lỡ vận (Người bạn trẻ, Người lính cũ), kéo dài cuộc sống vô nghĩa (Cái chân què), có thể đeo đuổi những việc vô bổ (Cuốn sách bị bỏ quên)… − Tất cả những nguy cơ thường trực của sự suy thoái nhân cách như vậy, Thạch Lam rõ ràng đã ý thức được, nhưng không phải như là nguy cơ xảy ra riêng cho người nghèo hay riêng cho người giàu, mà như là cho "con người ta" nói chung (sáng tác Thạch Lam, vì vậy, không đậm tính xác thực, tính cụ thể-giai cấp trong miêu tả con người). Ngòi bút ông không say sưa mô tả quá trình suy thoái, lưu manh hóa của các hạng người trong xã hội đương thời như các cây bút Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan đã làm. Ông quan tâm đến giải pháp hơn là chỉ ra cái quá trình có vẻ khó tránh ấy. Và giải pháp ở ông cũng mang dấu ấn độc đáo: ông muốn ngăn chặn, ông mong có sự tỉnh ngộ, giác ngộ, sự ăn năn hối hận, ông trông vào ý thức về nhân phẩm ở con người − trông mong chứ không phải là yên tâm tin tưởng.

 

Thạch Lam là nhà văn có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của xu hướng tâm lý trong văn xuôi nghệ thuật tiếng Việt, cả bằng thực tế sáng tác (những truyện như Đứa con đầu lòng, Sợi tóc đáng được coi như những truyện mô tả tâm lý mẫu mực) lẫn bằng các phát biểu có tính chất định hướng lý thuyết. Đề tài Thạch Lam-nhà-văn-tâm-lý cần được nghiên cứu riêng. Ở đây, trong sự liên quan với đề tài đang bàn, chỉ xin nhận xét là chính xu hướng thể hiện tâm lý trong sáng tác của Thạch Lam cũng có liên quan với xu hướng điều hòa xã hội ở ông. Một trong số các lối thoát cho những tình thế phải xử lý mà Thạch Lam đã tìm thấy là thay đổi nhận thức của con người. Nhân vật chính của tiểu thuyết Ngày mới, trong cuộc săn đuổi hạnh phúc, sau nhiều vấp váp, lầm lẫn, đã đi đến chỗ thay đổi nhận thức của mình về hạnh phúc, trở lại "hòa thuận" với cuộc sống thanh bần. Chúng ta biết, thay đổi nhận thức cũng từng là một trong số các giải pháp ở các nhà "tả thực". Nhưng đối với các nhà văn ấy, việc thay đổi nhận thức thường được xử lý theo hướng nhận thức cho sâu sắc hơn nữa các tình thế bất công, mâu thuẫn đang ngự trị. Kết thúc tiểu thuyết Tắt đèn tiêu biểu cho hướng ấy. Đối với Thạch Lam, ngược lại, sự thay đổi nhận thức thường đi theo hướng hối cải, chuộc lỗi (ví dụ Một cơn giận) hoặc nhận biết để phòng ngừa (ví dụ Sợi tóc). Đây cũng có thể coi như là một phương diện của xu hướng điều hòa xã hội.

 

Cố nhiên, đã trông mong ở nhận thức, ở các thay đổi tâm lý của những con người trong cuộc, thì cần nhấn mạnh những cái chung ở người ta hơn là nhấn mạnh các khác biệt thuộc đặc thù xã hội-giai cấp. Những trang mô tả tâm lý của Thạch Lam thường mang một nhược điểm là ít nhiều trừu tượng hóa các quá trình tâm lý, ít nhiều tách biệt nó với các đặc tính cụ thể (xã hội-giai cấp, cá tính, môi trường…) của nhân vật. Nhưng nhược điểm này lại là có thể hiểu được, do gắn với xu hướng điều hòa xã hội, do gắn với xu hướng muốn nhìn thấy ở con người cái mang tính nhân loại chung hơn là cái mang tính đặc thù giai tầng riêng.

 

***

 

Sau một vài kiến giải như trên, tôi muốn trở lại để xác nhận điều còn hơi tự nghi vấn ở phần đầu bài viết. Tôi cho rằng Thạch Lam − xét về quan điểm và khuynh hướng xã hội − là gần gũi với các cây bút chủ chốt của Tự Lực văn đoàn, tuy có một vài điểm khác biệt. Sáng tác Thạch Lam để lại không nhiều, những bức tranh xã hội trong các sáng tác của ông không rộng và ít phức tạp nhưng cũng đủ để bộc lộ một quan điểm, một khuynh hướng khá nhất quán. Không phải Thạch Lam không nhận thấy các vấn đề, các mâu thuẫn xã hội đương thời, nhưng trong sự thể hiện nghệ thuật của mình, ông tỏ ra muốn điều hòa các xung đột, mâu thuẫn, điều hòa những chênh lệch, khác biệt. Điểm tựa cho sự điều hòa là cái chung của con người dù khác nhau về tầng lớp; những cái chung đó là lương tri, là tính thiện, là sự biết điều, là phẩm chất người − đây vừa là chỗ dựa, lại vừa là cái phải được vun đắp, hoàn thiện. Như vậy, Thạch Lam cũng hướng vào việc vận động xây dựng một văn hóa nhân cách hiện đại, một nhân tố quan trọng làm cơ sở cho dân quyền.

 

Một đặc điểm khá lộ liễu như xu hướng điều hòa xã hội ở sáng tác của Thạch Lam, các nhà nghiên cứu suốt mấy chục năm qua hẳn không thể không nhận thấy. Các nhà nghiên cứu hiện nay và sau này hẳn sẽ còn phải cảm thông nhiều hơn nữa với tình thế của những người đi trước, vì động cơ tốt là biện mình cho một hiện tượng văn hóa nghệ thuật có giá trị nên họ đã tránh nói thật về các hiện tượng ấy, hoặc buộc phải khoác cho các hiện tượng ấy những đặc tính khác, xa lạ với chúng. Không phải đã đến lúc có thể hân hoan một cách ngây thơ để bảo rằng đã xa rồi cái thời mà để bảo vệ cho các giá trị thì phải tạm quên chân lý. Thật ra cái thời như thế bao giờ cũng là thời hiện tại, chỉ có điều là với mỗi thời điểm, những biến chuyển trong tương quan xã hội và trong tâm thức công chúng lại mở ra những giới hạn mới cho sự tiếp cận chân lý. Một xu hướng như tư tưởng điều hòa, hòa giải xã hội, đối với cách nghĩ của mọi người từ dăm năm trở lại đây, đã không còn chỉ là tư tưởng đáng chê trách, diễu cợt hay lên án, mà ngược lại, trở nên một đề xuất đáng suy nghĩ.

 

Không nhất thiết phải gạt bỏ tiêu chí giai cấp khỏi các nghiên cứu xã hội học, có điều giai cấp là phạm trù lịch sử cụ thể. Thành phần giai cấp không phải là cái nhất thành bất biến đối với từng con người, trái lại nó biến chuyển theo vị trí của con người trong các quá trình xã hội. Chẳng hạn, những lớp người từng thuộc về các tầng lớp nghèo khổ hoặc đã từng đứng ở lập trường của người nghèo để tiến hành các hoạt động đấu tranh xã hội suốt nửa thế kỷ qua, giờ đây họ không còn là người nghèo nữa. Quá trình hữu sản hóa đã xảy ra đối với họ. Từ đây nảy ra bước tiếp theo của một lôgic: sự thừa nhận tư hữu, thừa nhận sở hữu tư nhân như một quyền năng hợp pháp. Thế nhưng giờ đây khi một công dân có thể đứng ra kinh doanh, đầu tư… mà không bị buộc phải giải thích về các nguồn tài sản thì cũng có nghĩa là sự giàu lại trở về cái nghĩa nguyên thủy của nó, tức là không với bất cứ định ngữ nào, và do vậy lại có cơ đối lập với sự nghèo nói chung. Mà một nước nghèo, đang phát triển như nước ta thì còn lâu mới hết vấn đề giàu nghèo, cả ở quan hệ với bên ngoài lẫn các quan hệ trong nội bộ xã hội cộng đồng. Tuy thế, nhìn trên quy mô thế giới, có thể thấy rằng vấn đề giàu nghèo đang được đề cập theo những giải pháp mà xu thế có khác với trước đây. Chẳng hạn, giải pháp có ưu thế ở cuối thế kỷ trước sang nửa thế kỷ này là sự đề xuất những cuộc cách mạng chính trị kể cả bạo lực lẫn vũ trang, muốn đi từ sự thay đổi cơ cấu quyền lực đến việc thanh toán tình trạng phân chia giàu nghèo. Giải pháp này dường như căn cứ trên một ý niệm là các mâu thuẫn giai cấp, các xung đột giàu nghèo là không thể điều hòa. Vậy mà từ nửa sau thế kỷ này và nhất là gần lại đây, ta lại thấy những cách đề cập vấn đề giàu nghèo như một vấn đề toàn cầu, một vấn đề đồng bộ mà việc giải quyết phải dựa trên hàng loạt yếu tố, hàng loạt biện pháp, từ dân số, môi trường, quan hệ giữa các quốc gia, vấn đề đầu tư cho các nước đang phát triển, vấn đề nợ quốc tế, v.v… Tóm lại, dù phức tạp nhưng vấn đề giàu nghèo không có vẻ là mâu thuẫn đối kháng như cách đề cập trước đây nữa; nó trở thành vấn đề có thể giải quyết dựa trên sự điều hòa, sự dung hòa. Có thể nói: muốn giữ ổn định xã hội bên trong một cộng đồng thì tất phải chấp nhận sự điều hòa, dung hòa chứ không phải sự đấu tranh một mất một còn.

 

Từ đôi điều vừa nói, ta hãy thử dự đoán về ý nghĩa hiện đại của một loạt hình tượng văn học. Ví dụ hình tượng Chí Phèo của Nam Cao, chắc chắn còn mang nhiều hàm nghĩa khác, nhưng với tư cách là một phương án giải quyết các xung đột xã hội, thì tôi ngờ rằng sự nổi loạn, sự khủng bố từ dưới lên kiểu Chí Phèo − là điều ít ai muốn thấy trong thực tế bây giờ. Con dao của anh Chí, cái đòn gánh của anh Pha, giờ đây tốt nhất là đừng vung lên như đã vung lên trong các tác phẩm hư cấu xưa ấy, và nhân danh lợi ích của sự ổn định thì tốt nhất là đừng gây cho chị Dậu cảm giác quá đen tối về tiền đồ, đừng khiến anh chàng Long lâm vào trạng thái bế tắc đến nỗi phải mượn lưỡi dao cạo để tự hủy, lại càng đừng nên có những Hải Vân, vượt biển tìm ngoại viện để quay về làm đảo lộn tất cả… Tốt hơn cả là trở về với sự hòa giải, như cách Thạch Lam đã đề xuất. Ta sẽ thấy, với thời gian, lôgic tiếp nhận các hình tượng văn học đang và sẽ còn biến đổi.

 

Xin một lần nữa trở lại định thức nổi tiếng của chủ nghĩa tam dân. Nội dung dân tộc mà mục tiêu là độc lập, nói nôm na là người mình cai trị dân mình, thì coi như đã được thực hiện. Nhưng độc lập có thể mất ý nghĩa nếu các nội dung dân quyền, dân sinh không được người ta đem lại cho chúng những chất lượng mới. Vậy là cái cương lĩnh xã hội mà các nhà tả chân cũng như các tác gia Tự Lực văn đoàn có vẻ như đã từng đeo đuổi − với những sự đề xuất hiển nhiên là còn phiến diện, từ những năm 1930 − cho đến bây giờ vẫn còn tính thời sự, một tính thời sự rộng hơn hẳn so với quy mô một cuộc khôi phục giá trị trong di sản văn nghệ. Từ di sản Thạch Lam và không chỉ di sản Thạch Lam, ta có thể nghĩ như vậy.

16.VI.1992

 

(1) Nguyễn Tuân: Đọc lại Thạch Lam // “Văn” (tuần báo của Hội Nhà văn Việt Nam), s. 28 (15/11/1957), tr. 3.