MỘT KÝ ỨC SỐNG LẠI

 

Chỉ cách đây mươi năm trở về trước thôi, có một phần di sản văn học còn bị cố ý quên đi: ấy là những bộ phận lớn của văn học công khai thời kỳ 1930-1945, nói cụ thể hơn là văn xuôi Tự Lực văn đoàn và thơ lãng mạn của "phong trào thơ mới". Chúng chỉ được nhắc đến sơ qua trong các giáo trình đại học, trong một vài cuốn chuyên khảo, cố nhiên với một tinh thần phê phán mạnh mẽ về mặt ý thức hệ.

 

Mười năm trở lại đây, số phận của phần di sản này dần dần thay đổi. Trước tiên, chúng lặng lẽ xuất hiện trở lại trong việc xuất bản những tuyển tập tác phẩm của các tác giả được coi là trụ cột của văn học Việt Nam hiện đại. Cái lý lẽ dẫu sao cũng dễ biện minh: đã là những tuyển tập tổng kết cả một đời sáng tác, làm sao có thể không bao gồm cái phần "quá khứ bị quên lãng" kia?

 

Nhưng không phải quá khứ nào cũng có sức ám ảnh hiện tại: từ lâu rồi, đối với những lớp người cầm bút hiện giờ, bộ phận di sản kia vốn đã là một phần không thể tách rời của kinh nghiệm văn học dân tộc.

Vài năm nay, kinh tế thị trường dẫu sao cũng đã tác động đến ấn loát: người ta phải tính tới nhu cầu độc giả. Vậy là những tập thơ, tiểu thuyết của bộ phận văn học "bị bỏ quên" kia được lục ra tái bản. Cả một cuộc phục hồi lặng lẽ diễn ra. Nhưng làn sóng phục hồi còn chưa lên đến đỉnh.

Đầu năm 1992 này, một ban liên lạc các nhà thơ từng tham gia "phong trào thơ mới" (1932-1945) được thành lập, những chương trình gặp gỡ, hội thảo, kỷ niệm đang được xúc tiến. Giới văn học Việt Nam đang hào hứng nhớ lại cuộc cải cách thơ ca từ 60 năm trước…

 

… 60 năm trước, trong nền thơ tiếng Việt bùng phát một phong trào sôi động toàn xã hội, đáng gọi là một cuộc cách mạng văn học, mở đường phát triển cho nền thơ ca hiện đại tiếng Việt.

 

Ở thời điểm "đêm trước" cuộc cải cách thi ca này, nền thơ cũ tiếng Việt đã xơ cứng; những quy phạm vay mượn và rút gọn từ thi pháp Đường-Tống, trải qua nhiều thế kỷ phát triển thơ ca Việt Nam, đến đấy đã trở nên kiệt quệ. Đã nghe thấy những tiếng nói chê trách. Thế rồi, vào một ngày lạ lùng, 10/3/1932, một ông già kỳ cục, một nhà cựu học, là học giả hơn là thi sĩ, đã ném ra trước làng thơ một bài thơ lạ hoắc. Không phải một bài thơ hay, nhưng khác lạ về thể thơ − một lối thơ tự do, không có gì chung với thơ theo niêm luật cũ. Chỉ như thế thôi, nó đã đủ trở thành sự khải thị cho một cuộc đổi mới. Lập tức, các chàng trai Tây học hưởng ứng, bằng những bài thơ mới, đăng báo rồi in thành sách, bằng những cuộc tranh luận trên báo chí và trên diễn đàn, trước đông đảo cử tọa, ở nhiều nơi trong nước. Mười năm sôi động trong đời sống thơ ca Việt Nam đã đưa tới sự thắng thế của thơ mới, với sự đề xuất một loạt tài năng độc đáo: Thế Lữ và Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu và Huy Cận, Huy Thông và Nguyễn Nhược Pháp, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên, Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chương, Bích Khê và Đinh Hùng… Nền thơ tiếng Việt từ đây sẽ luôn luôn mang theo kinh nghiệm và thành quả của cuộc cải cách này, dù ở từng chặng đường phát triển, người ta có công nhiên thừa nhận những kinh nghiệm và thành quả đó hay không.

 

Ông Hoài Thanh, nhà phê bình văn học có cái vinh dự là người tổng kết phong trào thơ mới bằng cuốn sách nổi tiếng “Thi nhân Việt Nam 1932-1941” (xuất bản 1942), đã viết trong bài khảo luận mở đầu cuốn sách nói trên rằng: "Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã mang theo, cùng với hàng hóa phương Tây, cái mầm sau này sẽ nẩy thành thơ mới".

 

 Phải nói rằng cuộc xúc tiếp − phần nhiều mang tính thụ động − với phương Tây từ cách nay bốn thế kỷ, đã  khiến cộng đồng dân Việt trên đất Việt phải trải qua nhiều đau khổ, bi thảm, nhiều mất mát suy thoái, rốt cuộc đã phải làm những cuộc kháng chiến lâu dài để tự giải phóng. Đấy là phương diện thứ nhất − cái hệ quả tiêu cực của sự tiếp xúc cưỡng bức mà cộng đồng Việt cảm nhận rất rõ và rất nhạy, đến mức ám ảnh. Nhưng còn có phương diện thứ hai mà tính tích cực của nó, dù sao trong cộng đồng Việt rồi cũng dần dà có người nhận ra: sự xúc tiếp với văn hóa phương Tây, chủ yếu là văn hóa Pháp, đã thúc đẩy và tạo cơ sở cho nhiều thay đổi tiến bộ trong sự phát triển văn hóa Việt Nam. Những thay đổi này đạt đến độ chín muồi vào những 30 của thế kỷ XX mà sự xuất hiện nền văn xuôi mới − với nỗ lực của nhiều người mà đáng kể nhất là các nhà văn trong Tự Lực Văn đoàn, − và sự xuất hiện thơ mới − kết quả của phong trào được nói tới ở đây − là những hiện tượng rõ rệt nhất. Từ đây bắt đầu nền văn học mới, hiện đại, của người Việt. Từ đây, văn học Việt Nam đi vào quỹ đạo chung của các nền văn học ở thế giới hiện đại. Nếu như ảnh hưởng Trung Hoa từng là chủ đạo trong suốt nhiều thế kỷ phát triển của văn học Việt Nam, thậm chí nó vẫn còn nguyên vẹn cho đến khi nền cai trị thực dân của Pháp đã được xác lập ở toàn lãnh thổ Việt Nam, thì từ những năm 30 của thế kỷ này, ảnh hưởng của văn hóa và văn học Pháp trở nên chủ đạo. Các nhà thơ mới ít nhiều đều học qua các loại trường học, bậc học của Pháp ở thuộc địa; họ biết thưởng thức trong nguyên tác tiếng Pháp những cái hay cái đẹp của văn xuôi André Gide, thơ của Rimbaud, Baudelaire, Verlaine và nhiều tác gia Pháp khác. Họ, những người trẻ tuổi giàu tài năng và mẫn cảm ấy, đã không chọn con đường viết văn bằng tiếng Pháp, dẫu không ít người trong số họ có thể làm như vậy. Họ chỉ học hỏi, tiếp nhận những nguồn ảnh hưởng mới này để sáng tạo cái mới cho thơ tiếng Việt. Tiếng Việt văn học không bị mai một, trái lại, chính nó được mở ra những khả năng nghệ thuật mới, với những tìm tòi của họ.

 

Khá nhiều nhà thơ của phong trào thơ mới 1932-45, về sau còn một lần nữa đóng vai trò những người tiên phong: họ có vinh dự là những người sáng lập nền văn học dưới chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa, kể từ sau tháng Tám 1945. Đối với những nhà thơ hai lần thành đạt trong đời làm văn học này, dịp nhớ lại 60 năm phong trào thơ mới là dịp quàng thêm những vành hoa mới lên những vinh quang cũ.

 

Nhưng ngoài cái phong cách kỷ niệm thông tục này, liệu có còn mối liên hệ gì khác nữa chăng, nếu muốn nói đến đời sống thơ ca hiện tại?

 

Hiện tại, tức là vài ba năm nay, việc xuất bản các tập thơ của từng tác giả đạt mức kỷ lục chưa từng thấy: khoảng 100 tập mỗi năm. Thi đàn trở nên chật cứng bởi một đám đông những tài năng thơ không mấy xuất chúng. Ấy là còn chưa tính đến những nhóm thơ trong các câu lạc bộ hưu trí, − nơi ấy những cố gắng cải cách thơ từ 60 năm trước đã hóa nên uổng công, bởi ở đấy vẫn thịnh hành những lối thơ đã từng bị cuộc cải cách ấy đẩy sang bên lề. Người Việt, hình như ai có chút chữ nghĩa là có thể làm thơ, − cái thú chơi này nếu chưa kịp tô điểm gì cho người quan chức lúc đương tại vị thì ít ra bây giờ cũng có thể là phương tiện tự an ủi, giữ thăng bằng tinh thần cho vị hưu quan ở buổi chiều tà, trước bao biến thiên của cuộc thế bên ngoài.

 

Rốt lại, từ phía thi đàn chính thức và từ phía các "thi xã" nghiệp dư, nỗi lực sản xuất tạo nên sự dư thừa. Đã có báo động về "lạm phát" thơ. Cũng có nguy cơ thơ không còn là cái gì quý hiếm như nó vốn dĩ phải có. Ngẫm ra, trạng thái ấy của thơ hiện nay cũng có cái gì na ná như trạng thái của nền thơ cũ ở "đêm trước" phong trào thơ mới. Nhưng vị tất đã phải dự kiến một cuộc cải cách nữa trong thơ. Không phải vì thảng hoặc không có những kẻ táo gan thách thức cả "làng thơ"; có lẽ chỉ vì còn chưa xuất hiện rõ rệt những tiền đề văn hóa-xã hội.

 

 Hiện giờ, số đông những người làm thơ − cả ở thi đàn "lớn" và ở các thi xã "bé" − đều ở trạng thái phấn chấn, tự hài lòng. Cảm giác "được mùa" ở từng người, cộng lại tạo thành cảm giác bình ổn chung, nơi ai nấy đều được lợi. Trong khí hậu văn học này, phong trào thơ mới 60 năm trước chỉ cần được nhớ lại, không cần được làm sống lại.

 

● Báo “Vietnam Courrier” (New series), Hanoi, N° 32, June 1992.