TRẦN CAO VÂN VÀ CHỦ TRƯƠNG TRUNG HÒA TỨ GIÁO

 

Mùa hè vừa qua, trong chuyến công tác ở Đà Nẵng, nhân các buổi xúc tiếp với một số nhân sĩ, trí thức tại thành phố miền Trung, trong đó có nhà văn Nguyễn Văn Xuân, nhạc sĩ Trương Đình Quang và một số người khác, khi hỏi một số việc liên quan đến phong trào duy tân ở miền Trung, tôi được các vị trên đây nhắc nhở một vài điều mà theo họ, sách vở nghiên cứu chưa mấy chú ý đến, là vai trò của một số chí sĩ gốc Minh Hương ở Hội An, Đà Nẵng như Châu Thượng Văn (Châu Thư Đồng) và một số người khác. Cũng trong dịp ấy, tôi được tặng bản chụp (photocopy) một cuốn sách, (1) có lẽ xuất bản ở nước ngoài mới đây, nhan đề Nhà cách mạng Trần Cao Vân với Trung thiên dịch, Trung thiên đạo. Cuốn sách gồm một phần in lại "nguyên tác" cuốn nghiên cứu về Trần Cao Vân của Hành Sơn Lương Vĩnh Thuật (xuất bản 1952 ở Pháp) và một phần "Tục biên" của soạn giả Trần Công Định, có lời tựa của GS Bửu Cầm và đề từ của GS Nguyễn Văn Thọ (Westminster, 1994).

 

Phải nói ngay rằng cả hai soạn giả Lương Vĩnh Thuật và Trần Công Định đều gặp nhau trong nhận định cho rằng việc Trần Cao Vân vào năm 1885 đề xuất đạo trung thiên tại Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) gần như là sự báo hiệu cho sự xuất hiện đạo Cao Đài tại đảo Phú Quốc vào năm 1921. Tôi không chuyên nghiên cứu tôn giáo nên xin đứng ngoài các nhận định tôn giáo sử đó.

 

Điều tôi quan tâm, liên quan đến chí sĩ Trần Cao Vân, một tên tuổi của các phong trào duy tân, Đông du, một yếu nhân trong cuộc chính biến bất thành của vua Duy Tân (1916). Vấn đề là:

1. Phải chăng trong trứ thuật của Trần Cao Vân có tác phẩm Trung thiên dịch, Trung thiên đạo?

2. Nếu quả vậy thì phải chăng có thể xem ông là một tác gia "tân thư" với việc đề xuất cách giải quyết vấn đề xung đột tôn giáo (nói cụ thể hơn là xung đột lương - giáo) − một trong những vấn đề nạn của thời đại?

 

***

 

Có thể thấy một số dấu tích về việc "lập thuyết" của Trần Cao Vân.

1/ Phan Bội Châu, trong câu đối khóc Trần Cao Vân, viết:

“Suối vàng thêm một ma chí sĩ, xã hội mất một vị đạo sư, liếc mắt xem Âu hải phong trào, thương đoàn hậu tiến;

Cựu học cũng một nhà danh gia, tân học cũng một tay cự phách, co tay kể hiện thời nhân vật, được mấy tiên sinh?”

 

Chỗ đáng lưu ý là Phan Sào Nam xem Trần Cao Vân như một "tay cự phách" trong làng "tân học", "một vị đạo sư" của xã hội. Phải chăng nên hiểu những chữ này cả theo nghĩa đen?

 

2/ Một tác giả khuyết danh, khóc Trần Cao Vân:

 

Hy tiên Văn hậu thử chân thuyên

Biệt tự trung gian tạo nhất thiên

Học thuyết năng tương tiên huyết nhiệm

Nam phương tân dịch tích vô truyền

 

Huỳnh Thúc Kháng dịch ra quốc âm:

Văn sau Hy trước vẫn kinh này

Riêng giữa Trung thiên dựng một tay

Học thuyết đem bầu tâm huyết nhuộm

Trời Nam Dịch mới tiếc không thầy.

 

Tác giả (khuyết danh) và dịch giả ở đây đều nêu lại cái truyền thuyết về các tác giả kinh Dịch Trung Hoa: Phục Hy mô phỏng 8 quẻ Hà đồ để vạch ra 8 quẻ Dịch Tiên thiên; Văn Vương mô phỏng Lạc thư để vạch ra 8 quẻ Dịch Hậu thiên − đó là thuật lại truyền thuyết. Đến lượt Trần Cao Vân (theo ý bài thơ khóc ông) − ông đã xây dựng Trung thiên dịch, với cả bầu tâm huyết của mình. Như vậy, tác giả và dịch giả bài thơ đều khẳng định Trần Cao Vân có trứ thuật Trung thiên dịch.

 

3/ Bản thân Trần Cao Vân khoảng năm 1908, trong câu đối khóc Châu Thư Đồng (Châu Thượng Văn), viết:

 

"Ngã bất nan xả sinh! Nại hà tai "Trung thiên dịch" sơ khai, Dữu Lý thất niên tiền vị diễn;

Quân nãi năng tựu nghĩa! Nan đắc giã vạn thế kinh độc thủ, Thú Dương thiên tải hậu do văn"

Cũng Huỳnh Thúc Kháng dịch:

"Ta có tiếc sống đâu!  Ngặt vì Dịch Trung thiên mới mở đầu, Dữu Lý (2) bảy năm chưa kịp diễn;

Ngươi hẳn theo nghĩa đấy! Khó nhất Kinh muôn đời hay giữ chắc, Thú Dương nghìn thuở vẫn còn nghe"

 

Câu đối này cho thấy chính Trần Cao Vân nói rằng: ông đã lập thuyết Trung thiên dịch, nhưng còn chưa truyền bá được bao nhiêu. Còn Huỳnh Thúc Kháng, khi chú thích dưới bài dịch, nói: "Trần có diễn bộ sách Dịch gọi là Trung thiên Dịch, tự sánh với Dịch tiên thiên của Phục Hy, Dịch Hậu thiên của Văn Vương, cũng bạo gan nhỉ, người tầm thường đâu có gan ấy". (Thi tù tùng thoại).

 

4/ Vụ án Trung thiên dịch ở Bình Định - Quảng Nam, 1901-1903, bị cáo là Trần Cao Vân. Bản khai của ông.

 

Theo cuốn sách của Hành Sơn Lương Vĩnh Thuật và Trần Công Định, thì khoảng năm 1898, sau khi ngồi tù 11 tháng (vì bị nghi can dự vào cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ ở Phú Yên), Trần Cao Vân ra tù, dạy học và bói quẻ ở Sông Cầu, đem thuyết Trung thiên dịch của mình truyền bá, được dân chúng Bình Định - Phú Yên sùng mộ. Do vậy chính quyền địa phương, đứng đầu là Bố chính Bùi Xuân Huyến, ra lệnh bắt Trần Cao Vân cùng vợ ông và một đệ tử của ông là Nguyễn Nhuận. Bùi Xuân Huyến kết ông vào tội dùng "yêu thư yêu ngôn" xúi dân phiến loạn và tuyên phạt ông án tử hình. Nhưng ở triều đình Huế, một số quan chức có cảm tình với ông đã gỡ được án ấy cho ông. Rốt cuộc, ông chỉ bị 3 năm khổ sai.

 

Theo Hành Sơn Lương Vĩnh Thuật thì Trần Cao Vân "đề xướng Trung thiên Dịch, đem Dịch Tiên thiên của Phục Hy và Dịch Hậu thiên của Văn Vương phối hợp thành Dịch Trung thiên" (Sđd, tr.80).

 

Nhưng điều nan giải cho nỗ lực khảo sát lý thuyết Dịch Trung thiên của Trần Cao Vân chính là không còn tư liệu, văn bản gì.

 

Đây là lời Hành Sơn (1952):

"Thuyết Trung thiên dịch thế nào, thật không ai biết. Những đồ đệ cao cấp, những ông bạn đồng song và những người đã được nghe cụ Cao Vân nói về "Trung thiên dịch" thì nay không còn. Chúng tôi có gặp được vài người có thể gọi là học trò cụ, thì họ cũng thú nhận họ không được hiểu lắm, họ bảo: lúc bấy giờ cụ Cao Vân đã làm thành "Trung thiên dịch đồ", đã biên soạn rất nhiều tài liệu, dự định viết thành sách, nhưng chưa thực hành được thì cụ bị bắt, "Dịch đồ" và tài liệu ấy, lớp bị tịch thu, lớp bị thất lạc, lại nhà nào có một tí giấy tờ dính líu đến "Trung thiên dịch" cũng bị liên can, nên đành phải huỷ diệt hết, không một ai dám giữ" (Sđd, tr.80-81).

Sau khi công bố cuốn sách của mình (đưa sang Pháp in 1952, nhưng mãi đến 1956 mới được phát hành), có lẽ Hành Sơn Lương Vĩnh Thuật đã sưu tầm thêm không ít. Trước khi mất, ông nhờ một người cháu trao lại cho nhà giáo Trần Công Định, yêu cầu ông này biên soạn và công bố tiếp. Trần Công Định có xúc tiếp với ba người con của Trần Cao Vân là bà Trần Thị Phái (1897-?), bà Trần thị Ngọc Diêu (1900-?) và ông Trần Nguyên (1904-71), sưu tầm thêm tài liệu và công bố vào phần Tục biên và phần Bổ túc của cuốn sách trên.

 

Ở hai phần này, soạn giả thứ hai − Trần Công Định − đã nỗ lực dựng lại diện mạo lý thuyết Trung thiên dịch, Trung thiên đạo của Trần Cao Vân, bằng cách đối chiếu các nguyên lý của Kinh Dịch với những ý tưởng của Trần Cao Vân, biểu lộ thông qua một loạt di cảo sáng tác của ông:

1. Bản khai của Trần Cao Vân khi bị thẩm vấn năm 1902 ở Bình Định và Quảng Nam vì bị cáo giác "yêu thư yêu ngôn, xui dân phiến loạn".

2. Bài thơ Tự thuật, chữ Nôm, Trần Cao Vân viết năm 1902 trong tù, 172 câu song thất lục bát.

3. Một số sáng tác khác có nội hàm triết lý như các bài Vịnh tam tài (Thiên, Địa, Nhân), Luận tứ đức (Nhân, Minh, Trí, Dũng), bài Nhũ phú (vịnh đôi vú, 112 vận, chữ Hán), v.v.…

 

Đặt trong liên hệ với chủ trương trung hòa tứ giáo đang muốn bàn ở đây, thì trong số các di cảo này, bản khai án của Trần Cao Vân là quan trọng hơn cả.

 

Có thể nói, cho đến nay, đây là văn bản đặc sắc hơn cả để hiểu quan niệm Dịch trung thiên và Đạo trung thiên của Trần Cao Vân, vì đây là lời toát yếu của chính tác giả về chủ thuyết của mình. Ông, cũng như không ít nhà cách mạng khác, đã dùng nơi cửa quan xử tội mình làm diễn đàn truyền bá tư tưởng của mình vậy.

 

Đương nhiên đối với giới nghiên cứu, các tác phẩm của Trần Cao Vân nói chung, nhất là những tác phẩm mới công bố trong cuốn sách của Trần Công Định, còn cần được khảo sát và giám định thêm về mặt văn bản. Bởi soạn giả sau, giống như soạn giả trước, thường không cho biết rõ từng văn bản di cảo là do ai cung cấp, tình trạng di cảo thế nào, hoặc nếu soạn giả phải khôi phục văn bản từ các bản ghi và lời kể khác nhau thì quá trình phục hiện ấy ra sao, văn bản phần chữ Hán in trong cuốn sách là bút tích tác giả hay là bản chép của người sau, v.v… Trong bản phiên âm và nhất là trong các bản dịch có những chữ dùng có thể khiến người nghiên cứu ngần ngại, ví dụ các thuật ngữ "thượng ngươn", "hạ ngươn", hoặc chữ "Cao Đài" viết hoa − đem gắn cho Trần Cao Vân ở thời kỳ đạo Cao Đài chưa phát sinh, quả cũng gây phân vân về mức độ "thẩm thấu ngược" của tư tưởng các soạn giả vào các lời dịch thậm chí vào văn bản gốc của tác giả (xin thêm: Hành Sơn Lương Vĩnh Thuật là một giáo sĩ cấp cao trong đạo Cao Đài). Nhưng để tìm vào xu hướng tư tưởng của Trần Cao Vân, hiện giờ cần tạm gác lại phương diện văn bản học ấy.

 

***

 

Bản khai viết bằng văn xuôi chữ Hán. Trần Cao Vân không nói là tự mình lập thuyết, mà nói rằng mình được một dị nhân truyền cho. Ông kể về điều này như kể một huyền thoại có thật:

 

Ngày rằm tháng Tám Ất Dậu (1885), khi đang dạo chơi Ngũ Hành Sơn, ông gặp một dị nhân "hạc cốt tiên nhan". Ông hỏi tên thì dị nhân nọ cười lớn mà bảo: "Ta là người ở Đông Tây Nam Bắc vậy. Ta đứng giữa Trời và Đất. Hình ta dễ thấy, tên ta khó xưng (…) Nay ta vì vua vì cha mà đến. Dân thảy là con ta, (3) vật thảy là của ta (…) Ta đem cái ta là thiên mệnh làm cái tính của ta. Ta tu cái đạo của ta. Ta làm sáng tỏ cái giáo lý của ta. Người muốn biết ta, 18 năm sau cũng chưa muộn". Rồi dị nhân rờ tim, rờ trán, xem chân tay Trần Cao Vân, "nhận quả có tiên nhân", mới trao cho quyển sách nhan đề Hội Cực Thái bình đồ thư nhất quyển,(4) lại còn dặn dò thời sự về sau.

 

Trần Cao Vân nói tiếp: ông coi đây là thiên cơ, vả thấy thời hạn đã đến (18 năm), không dám trái mệnh, phải đem lời được truyền ra thuyết giảng, nay tâu trình các quan chức sở tại, rồi xin tâu với triều đình cho truyền khắp tứ dân…

 

Kế đó, ông thuật lại lược ý chỉ của vị thần nhân kia, mà nội dung đó chính là chủ thuyết của ông.

 

"… Hội này là hội cuối rốt đời hạ nguyên, nhân vật hỗn đồng. Thiên hạ vì tài lợi mà phân tranh, dân gian ắt cương thường rối loạn. Kẻ sĩ mỗi người theo sở học riêng, ai nấy đều nghĩ đến thân mình. Ôi thôi! Đạo Trung Dung cao xa lắm rồi, con người ít theo kịp… Hãy xem hiện trong đạo ra gồm có tứ giáo, mà bậc trên là quân tử, bất quá tùy thời, còn ở dưới, bọn tiểu nhân lại hay chê bai lẽ đạo, hoặc lấy thế môn đồ mà khinh thầy chê đạo, hoặc chấp một ngụy thuyết mà bỏ vạn điều chân, chẳng dò đến cội nguồn, chẳng biết đến điều sâu kín. Ý ấy thảy đều lấy một nhà làm tôn chủ, lại chia làm tứ giáo cho khác nguồn.

 

Thầy Mạnh Tử dạy: Đạo chỉ có một mà thôi. Sách Chân kinh cũng viết: Không Thánh nhân, lấy ai hành đạo trong thiên hạ; không Phật, Tiên, lấy ai trông giữ cơ trời; không Thiên Chúa, lấy ai quản được các vật quần sinh. Bởi đem một đại Thánh nhân trong đạo ta là người thống chưởng nhân đạo, dạy rõ nhân luân, kiêm thông thiên, địa, vạn vật, phối hợp với một đại Phật nhân trong đạo ta, là người chưởng quản thiên đạo, rõ biết lòng trời, phối hợp với một bậc đại Tiên nhân trong đạo ta, là người chưởng quản địa đạo, minh truyền địa lý mà hiểu cả nhân đạo, vật đạo, lại phối hợp với một vị Thiên Chúa trong đạo ta, là người chưởng quản vật đạo, minh phú vật hình mà thấu hiểu cả tam tài thiên, địa, nhân. Kể cả bốn chức chưởng gồm 12 nguyên hội, hợp tứ thể đồng một lòng, muôn ngành chung một cội. Sơ nguyên bốn vị tổ đều chung một thầy từ thời Bàn Cổ là đức Nguyên Thuỷ Hồng Quân, về sau chia phái, riêng biệt môn đồ, (5) mà cái chân truyền đạo thống nhất nguyên đều đi tới chỗ: Minh đức tân dân, chỉ ư chí thiện.

 

Gần đây môn đồ các phái không rõ công tâm của tạo hóa, không hiểu ý sâu của tiên nho, câu nệ theo ý riêng một nhà, căn cứ vào lời nói một phía, làm ra sách ngụy, công kích lẫn nhau; thậm chí phái này bảo phái kia là không có cha, phái kia bảo phái này không có thầy. Thế thì dân còn biết tin cậy vào đâu! Cho nên tất cả dân lương giáo trong đạo của ta, chỉ vì quên giáo huấn của vị tổ chung mà làm thương tổn đến hòa khí của trời đất, gây ra oan trái, sinh chuyện hận thù, bề ngoài thì giả danh nhân nghĩa, bề trong thì tính chuyện can qua, không tìm bản nguyên, không truy tìm tông phái, thù oán tăng lên, sinh ra giặc loạn, đến nỗi triều đình dàn xếp không yên, dân tình thống khổ, chẳng qua vì ngụy thư gây rối bên trong, giặc giã nổi lên ngoài biên khổn.

 

Đau đớn thay! Đời càng xuống, người càng suy, thiết tưởng đáng buồn cho đạo ta vậy. Nhưng chẳng qua là khí số xui nên thế, chứ đạo ta không vì Tần mà mất, chẳng vì Hán mà hưng, đạo ta ở trong thiên lý, ở trong lòng dân, vẫn còn mãi mãi. Đến nay hội nhất nguyên đang tới, thế giới mới sắp mở; Đạo gặp nhau mà sáng tỏ, lý được thầy mà thêm rõ ràng, điều này rất quan hệ với đạo ta, khó mà điềm nhiên cho được.

 

Kẻ ngu này thiết nghĩ: Tôi thường nghe việc trong thiên hạ, có bĩ rồi có thái, có tối rồi có sáng, có đóng thì có mở, có chia thì có hiệp. Nói phân ra thì tứ giáo tuồng như không chủ, một đường mà nam bắc rẽ chia. Nói hiệp thì muôn nước cùng chung là tôi con Thượng Đế, ngàn thuở vẫn gió mây gặp gỡ. Đạo ta nhất quán là thế! Vì đem trung hòa mà thu lại tứ giáo, cũng như trong Dịch lý của ta, khí Thái Cực gồm có Lưỡng nghi, rồi tự nhiên Tứ tượng hóa sinh, muôn vật đều theo đấy mà sinh sôi nảy nở. Ở trời gọi là tứ tượng, ở đất gọi là tứ chính, ở người gọi là tứ thể, ở đạo gọi là tứ giáo, bốn điều kiện cần ấy không thể thiếu một số đứng vào giữa, cứ thế mà suy, chính là số 5, một sinh số, rốt cuộc là "Doãn chấp quyết trung".

 

Chỉ vì người lựa chọn không rành, chân giả không tinh, chứ đạo Trung là đạo lớn trong thiên hạ, không thiên, không ỷ, không thái quá, không bất cập. Từ Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, đến Chu Công, Khổng Tử, Thánh trước Thánh sau, tâm lại truyền tâm, đều lấy đạo Trung làm chuẩn đích.

 

Nay người trong thiên hạ, bậc làm thầy lấy đạo Trung dạy đời, bậc làm vua lấy đạo Trung trị đời, đến cả dân tứ giáo đều cải tà quy chính, bỏ ngụy theo chân, tu đạo người, trọng luân lý, đôn vương hóa, lập sơ cơ, khiến tứ giáo đều theo bản nguyên. Ở nhà tư thì lấy thầy mình làm chủ, vào công hội thì lấy thầy chung mà suy tôn, cốt tu đạo cho sáng, không giả danh, không lừa đời, những điều dị đoan trong tứ giáo đều bỏ hết, để một chính đạo là đạo Trung sáng lại.

 

Kẻ ngu này thiết tưởng: được như thế thì không cần động đến can qua mà thanh muôn dặm, không cần đến cờ trống mà sấm động ba xuân, sẽ thấy chim xuất tính thì bay, cá xuất tính thì nhảy, lương giáo đều được yên lành mà Triều đình cũng không cần can thiệp. Cái thịnh trị thời Đường, Ngu tuy chưa dám hứa hẹn, mà thiên hạ đã bắt đầu được hưởng cuộc sống thanh bình…"

(Bản dịch của Trần Công Định, Sđd, tr.197-200)

 

 

Đọc lại phần chính trên đây trong bản khai án của Trần Cao Vân, chúng ta có cảm tưởng đang đọc các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ trước đó chừng vài ba chục năm hoặc các bài giảng tại Đông kinh nghĩa thục sau đó dăm năm. "Đề tài" điều trần của Trần Cao Vân là vấn đề tôn giáo, mà đương thời, vấn đề xung đột lương giáo đang khá gay gắt: đang diễn ra các vụ đánh đạo, bắt đạo, cấm đạo, do dân bên lương tự động gây ra cũng có, do quan lại triều đình tổ chức cũng có, lại có cả những vụ do nghĩa quân của các phong trào văn thân thực hiện. Từ phía lực lượng xâm lược, người Pháp không thể không khai thác xung đột đức tin đang chia rẽ cộng đồng người Việt.

 

Đặt trong khung cảnh đó, đề xuất trung hòa tứ giáo của Trần Cao Vân có ý nghĩa như một giải pháp xã hội mà tác dụng của nó − nếu được thực hành − là củng cố khối đoàn kết toàn dân, hòa giải, hạn chế những xung đột do khác biệt về tín ngưỡng bên trong cộng đồng dân tộc.

 

Đề xuất này, dù muốn áp dụng cho phạm vi dân tộc (quốc gia) hay phạm vi nhân loại (quốc tế) thì cũng là một ý tưởng không tưởng. Ở Việt Nam thời đó, ngay trong giới nhà nho, định kiến về lương - giáo đang rất nặng nề. Có lẽ chính Trần Cao Vân thấy khó thuyết phục công chúng bằng lý lẽ thuần lý tính nên đã mượn dạng thức tiên tri ngộ đạo để dẫn nhập công chúng, tận dụng tâm thức chuộng thần bí của cư dân nước mình, khai thác phương thức mê hoặc vốn không ít phổ biến.

 

Sự luận chứng cho đề xuất này được Trần Cao Vân thực hiện ở hai cấp độ: vũ trụ quan và nhân sinh quan, tức là từ Trung thiên Dịch đến Trung thiên Đạo. Về Trung thiên Dịch, soạn giả Trần Công Định phân tích các di cảo của Trần Cao Vân, đối chiếu với các phần Hà đồLạc thư của kinh Dịch, và nhận định rằng: Hà đồ với tám quẻ Tiên thiên, chủ yếu mô tả sự phát sinh của vũ trụ; Lạc thư, với tám quẻ Hậu thiên, chủ yếu mô tả thế giới trên trái đất. Như vậy, nói về tam tài (Thiên - Địa - Nhân), Dịch Tiên thiên đặt chú ý vào Thiên (Trời), Dịch Hậu thiên đặt chú ý vào Địa (Đất). Dịch Trung thiên của Trần Cao Vân đặt ngôi Nhân (con người) vào trung tâm, xem đó là trung điểm của vòng Dịch, điểm đồng quy của đất trời. (6)

 

Về Trung thiên đạo − mà Bản khai án bộc lộ khá đầy đủ, − Trần Cao Vân đưa ra một kiến giải độc đáo về "tứ giáo đồng nguyên" mà dấu vết sự suy rộng từ "tam giáo đồng nguyên" là khá dễ thấy, tuy để ý kỹ cũng thấy thêm là vị thế của Tô-gia giáo (Ki-tô giáo) trong kết cấu của ông có phần lỏng lẻo hơn so với "tam giáo" quen thuộc (Nho, Phật, Đạo):

− Thánh nhân (Nho giáo) thi hành đạo trong thiên hạ tức là quản lý nhân đạo.

− Phật giáo quản lý thiên đạo

− Đạo giáo quản lý địa đạo

− Thiên Chúa giáo quản lý vật đạo

 

Vũ trụ tam tài (thiên, địa, nhân) giờ đây mặc nhiên có thêm một phạm vi thứ tư: vật nó khu trú ở đâu trong 3 phạm vi đã biết nếu chưa làm biến đổi cả mô hình chung?

 

Thiện ý hợp thức hóa vị trí của Ki-tô giáo, như vậy, còn chưa trú ngụ ổn thỏa vào một cấu trúc lý thuyết hữu cơ. Nhưng thiện ý vẫn là điểm phải ghi nhận. Xin kể thêm là ở đầu Bản khai án, khi xưng danh, Trần Cao Vân tỏ ra rằng ông là tín đồ của cả 4 đạo:

"Ngũ Sơn Cổ Am cư sĩ, tính Trần phụ mệnh viết Nho tự Cao Vân, Tào hiệu Bình Nguyên, Thiền pháp Như Ý, Tô danh Song Giải, tự hô Nhất Lục tử" (7) (Sđd; tr.189)

 

Tuy vậy, xuất thân nho gia và văn hóa Nho giáo ở Trần Cao Vân vẫn bộc lộ tính trội của nó. Trung thiên đạo của ông không xa với đạo Trung dung của Khổng Mạnh, và ở phương diện ứng dụng của nó, chỉ có tư tưởng "trung hòa tứ giáo" − thực chất là chấp nhận thêm vị trí của đạo Thiên chúa trong cộng đồng Việt − là nét mới nhất ở ông.

 

Vả chăng, đây cũng là nét bổ sung của Trần Cao Vân vào tư tưởng duy tân, trong khi nhiều tác gia "tân thư" khác ở ta cùng thời ông thường tập trung vào việc đổi mới nguồn kiến văn, chú trọng đến các kiến thức mới về kinh tế, xã hội, về quản lý nhà nước, về sản xuất kinh doanh, và khi đề cập đến hoạt động trí tuệ tinh thần, cũng mới chú ý đến việc thay đổi sự học.

 

Cố nhiên, nếu hình dung sự chuyển biến tinh thần của giới trí thức Việt Nam thời duy tân-tân thư như là thoát từ vòm trời trung cổ Á Đông ra vòm trời thế giới cận hiện đại − cuộc giải thoát mà tinh thần chủ đạo là khai sáng về trí tuệ, − một sự khai sáng mang theo những đặc tính như là duy vật hóa các nhận thức, vô thần hóa các niềm tin…, thì đề xuất "trung hòa tứ giáo" của Trần Cao Vân, dù hiểu như đề xuất cải cách chính sách tôn giáo, vẫn có vẻ như một hướng đi ngược. Thế nhưng, phong khí không tưởng có thể nói là mãnh liệt của Trần Cao Vân trong biện thuyết lại là phong khí chung của hầu hết các tác giả lớn thời duy tân.

 

Về tác gia Trần Cao Vân, sự hình dung của chúng ta đến hôm nay chắc vẫn còn khó khăn, vì số tác phẩm tìm lại được còn khá lẻ tẻ, thiếu thốn. Nhưng ngay trong số tác phẩm đã tìm thấy, vẫn có thể dẫn ra những sáng tác khác, trong đó các tư tưởng duy tân bộc lộ rất rõ, và có thể xem đó đích danh thuộc "tân thư" (ví dụ các bài thơ vịnh Ai là nho sĩ?, Gởi các sĩ phu trong nước, bài hát nói Khuyến học gửi con gái đỗ Tuyển sinh, mang đậm tư tưởng nữ quyền…, Thư gửi vua Duy Tân, v.v…)

 

Phải chăng ở tiến trình tư tưởng Trần Cao Vân, thời kỳ ông soạn Trung thiên dịch, Trung thiên đạo (khoảng từ 1885 đến 1902) và thời kỳ "đập đá Côn Lôn", gặp nhiều chí sĩ trong tù − là hai thời kỳ tương đối khác nhau?

 

Qua hai soạn giả cuốn sách đã dẫn, chúng ta biết là khoảng năm kinh thành thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn (1885), Trần Cao Vân thoát ly gia đình, sống như một đạo sĩ, khảo cứu kinh Dịch, dạy học, bói quẻ, và trong cuộc khởi nghĩa Võ Trứ ở Phú Yên, ông giữ vai trò quân sư. Biệt danh Chánh Minh của ông trong cuộc khởi nghĩa ấy, việc dân chúng Bình Định, Phú Yên sùng mộ thuyết Trung thiên dịch mà ông truyền giảng đến độ trong "mỗi nhà đều có treo một tờ giấy viết sáu chữ, giữa "Trung thiên", tả "Tiên thiên", hữu "Hậu thiên" để hằng ngày chiêm ngưỡng" (theo Hành Sơn, sđd., tr.81) − khiến ta hình dung ông giai đoạn này trong dáng dấp một "ông đạo" như trong các dòng tiên tri khá phổ biến ở Nam Kỳ (Bưử Sơn Kỳ Hương, đạo Kiến, đạo Xuyến, đạo Lập, đạo Đèn, đạo dừa, đạo Tưởng, đạo Khùng…)(8)  Mức độ thần bí trong tâm thức ông thời gian này không chắc là không có, mặc dù việc mượn áo đạo sĩ để kiếm tìm bạn đồng tâm đồng chí cũng là điều không thể bác bỏ.

 

Sáu năm Côn Đảo (1908-14), rồi trở về, tham gia Việt Nam quang phục hội, cùng Thái Phiên gặp vua Duy Tân, vạch kế hoạch làm cuộc chính biến, phối hợp với các mũi đánh về từ biên giới phía bắc, nhằm lập nên một nhà nước quân chủ lập hiến… − quãng thời gian cuối đời này, ở Trần Cao Vân có lẽ đã có những biến chuyển tư tưởng so với trước. Một vài sáng tác còn lại cho thấy đến lúc này, ông hoàn toàn biểu hiện mình như một chí sĩ duy tân, như một tác gia "tân thư".

 19/12/1996

Tham luận tại Hội thảo về tân thư lần thứ hai, Hà Nội, tháng 1/1997.

(1) Nhân dịp đăng bài này, tôi xin tỏ lời cảm ơn ông Trương Duy Hy, là người đã tặng tôi một bản chụp cuốn sách này (L.N.A.).

(2) "Dữu Lý là tên ngục mà vua Văn Vương bị giam và làm Kinh Dịch trong ấy" − chú thích của Huỳnh Thúc Kháng (Thi tù tùng thoại). Thú Dương là núi mà Bá Di, Thúc Tề lên đấy, nhịn đói cho đến chết, không chịu ăn cơm gạo nhà Chu.

(3) Nguyên tác: "Dân giai ngô bào" = "Dân là  ruột thịt của ta" thì đúng hơn chăng?

(4) Bản khai có lời chú rõ: "Quyền kỳ thư có 36 trang, trong có in Trung thiên bát quái, Tân thế giới cục, Hội đồng tứ giáo nhất quán chân truyền, Vận hội mới của nguyên thứ bảy, v.v…."  Phải chăng đây là Trần Cao Vân giới thiệu tên và các phần cuốn sách của chính ông?

(5) Lời chú thứ ba trong nguyên văn bản khai nói rõ: "Phân ra Nho giáo tôn chủ là từ Phục Hy; phân ra Thiền gia giáo tôn chủ là từ Thích Ca; phân ra Tào gia giáo chủ là từ Lão Bành; phân Tô Gia giáo chủ là từ Giê Giu. Tại Phục Hy lấy Bàn Cổ sơ khai làm tổ; tại Thích Ca lấy Di Đà Như Lai làm tổ; tại Lão Bành lấy Thái Thượng chính nhất làm tổ; tại Giê-giu lấy đệ nhất Thiên Chúa làm tổ. Mỗi đạo xưng tổ, danh hiệu khác nhau, nhưng về nguồn gốc, lý nó vẫn một".

(6) Một số sáng tác khác của Trần Cao Vân như Vịnh Tam Tài, Nhũ phú, hoặc lời giải của Trần Cao Vân về bài thơ Nam tử thân của Thiệu Khang Triết (triết gia thời Tống, Trung Quốc) − không rõ do ai cung cấp "lời giải" này − được Trần Công Định phân tích theo hướng đọc ra các ý tưởng Dịch lý trong đó. Theo Trần Công Định, các sáng tác này cho thấy Trần Cao Vân xem Con Người như một tiểu vũ trụ (microcosme), hòa điệu với đại vũ trụ (macrocosme).

(7) Cư sĩ Ngũ Sơn Cổ Am họ Trần, theo cha đặt tên là Nho, tự là Cao Vân, Đạo hiệu Bình Nguyên, Thiền pháp là Như Ý, tên Gia-tô là Song Giải; tự tôi gọi tôi là Nhất Lục Tử" (lời dịch của Trần Công Định)

(8) Xem: Tạ Chí đại Trường: Thần, Người và Đất Việt, Cali., 1989, tr. 308-368.