So sánh bản A với bản B  

 

Như đã thông báo về quy ước đánh số các bản in tôi đem khảo dị, bản A là bản đăng báo lần đầu, trong 11 kỳ đầu mang tên Giông tố, 21 kỳ sau mang tên Thị Mịch; bản B là bản in thành sách riêng lần đầu tiên, mang tên Giông tố.

Trong lịch sử ấn loát Giông tố, hai bản này chiếm vị trí đặc biệt: đây là hai bản in duy nhất trong sinh thời tác gia Vũ Trọng Phụng; và vì hiện nay không còn khả năng tìm được bản thảo viết tay sáng tác này của tác giả, cho nên đây là hai căn cứ văn bản gần nguồn duy nhất hiện còn. Quan hệ giữa hai bản này cũng khác biệt so với hai bản bất kỳ nào khác; là vì bản A là bản đăng báo lần đầu, trên đó có thể có những lỗi in, những cắt xén sửa chữa của người biên tập Hà Nội báo, lại cũng có thể có những câu chữ, ý tứ mà khi đọc lại ở dạng bản in, tác giả Vũ Trọng Phụng thấy cần phải sửa chữa, nhuận sắc ít nhiều, nếu tác phẩm in thành sách riêng.

Những người tham gia hoạt động làm sách làm báo ở Hà Nội từ những năm 1970 như người đang viết những dòng này, đều biết quy trình của các cuốn sách bài báo đại thể như sau: đầu tiên là bản thảo viết tay (hoặc đánh máy chữ) của tác giả đưa tới toà soạn báo, tạp chí hoặc nhà xuất bản; bản này sẽ được biên tập (bởi một biên tập viên) và đọc duyệt (bởi một tổng biên tập hoặc người được giao trách nhiệm này); bản đã biên tập và đọc duyệt được chuyển xuống nhà in để sản xuất nhân bản thường là một bản đánh máy chữ; thợ sắp chữ của nhà in sẽ sắp chữ theo bản đánh máy này, sắp chữ xong sẽ rập ra một bản rập thử (épreuve) đưa cho người sửa in (tại nhà in và tại nhà xuất bản đều có người sửa in); việc sửa chữa trên bản rập thử có thể lặp lại vài lần, có khi không chỉ người sửa in mà cả biên tập viên cũng tham gia một phần công việc sửa in (thậm chí những tác giả kỹ tính, lại vốn không xa lạ với công việc sửa in, như Xuân Diệu mà người đang viết những dòng này có quen biết, thì bao giờ cũng đòi hỏi tham gia sửa in bài vở của mình); bản rập thử lần chót được phía nhà xuất bản đồng ý (người sửa in của nhà xuất bản sẽ ký in vào bản rập cuối cùng này) sẽ là bản được cố định trong khuôn in, sẽ được in nhân bản, đóng sách, vào bìa, thành sản phẩm ấn loát đưa ra thị trường.

Tìm hiểu hoạt động in và xuất bản trước 1945 ở Hà Nội, ta sẽ thấy thực trạng còn giản đơn hơn quy trình trên chút ít: nhiều trường hợp văn bản đưa xuống nhà in chính là bản thảo của tác giả, và tác giả không hiếm khi cũng tham dự vào việc sửa in bài vở của mình. Có thể thấy ít nhiều về tình trạng này qua đoạn hồi ký sau đây của một đồng nghiệp cùng thời Vũ Trọng Phụng:

“Rồi lại có một chiều, tôi gặp Phụng ở giữa đường, tôi rợn người vì mặt anh không còn sinh sắc nữa. Anh lê gậy đi như một con ma giữa cái thiên hạ đang tranh sống dưới ánh mặt trời, trong gió bụi. Phụng lảo đảo ngả vào tôi, hổn hển:

− Đưa tôi đến nhà báo thu thập những bản thảo cũ đã in rồi. Tôi cần giữ bản thảo của tôi. Tôi thích chơi bản thảo, càng dây bẩn nhiều vết tay anh em thợ chữ lại càng quý lắm”.[1]

Ta có thể dự đoán rằng bản Giông tố dùng để sắp chữ đăng Hà Nội báo năm 1936 chính là bản thảo viết tay của tác giả. Và cũng có thể dự đoán tiếp rằng bản in trên Hà Nội báo (với một vài sửa chữa bằng những dòng chữ viết tay bên lề các cột chữ in chẳng hạn) sẽ được tác giả đưa tới nhà xuất bản Văn Thanh và nhà xuất bản này đã dùng nó (chứ không phải bản thảo viết tay ban đầu) đưa cho thợ sắp chữ để làm thành bản in sách 1937. Tôi nghĩ, những người làm báo, viết văn ở Hà Nội từ những năm 1930 đến những năm 1980 đều có thể chấp nhận được điều giả định nói trên.

Qua việc thống kê dị bản ở các chương đoạn Giông tố, có thể thấy rằng từ bản đăng báo sang bản in sách, tác giả đã sửa chữa không ít. Nhiều nhất là sửa văn; đây là thao tác thường thấy của hầu hết các nhà văn khi họ có dịp ngồi đọc lại tác phẩm của mình; đối diện với cái văn bản chính mình đã viết ra, với một cây bút trong tay, họ bao giờ cũng tự sửa văn mình.

Giông tố, từ bản đăng báo sang bản in thành sách, những sửa chữa về văn phong cũng có nhiều sắc thái ý nghĩa.

Có khi chỉ sửa một từ, chẳng hạn khi từ này mang sắc thái phương ngữ Nam kỳ, ví dụ từ chớ, tác giả sẽ sửa lại theo sắc thái phương ngữ Bắc kỳ là chứ  (báo chí ở miền Bắc vốn phát triển sau nên nhiều chữ dùng ban đầu chịu ảnh hưởng miền Nam, về sau có tự sửa lại ít nhiều, song nếu quan sát kỹ sẽ thấy ảnh hưởng ấy vẫn còn). Nhưng thông thường hơn là sửa văn cho hợp lý hơn, dễ nghe hơn, theo ý tác giả; theo hướng này, ta sẽ thấy tác giả đã sửa:

− một nhận xét về nghị Hách

 “cái vẻ khó tả của những anh trọc phú học làm sang vậy” [A]

thành:

 cái vẻ khó tả của những anh trọc phú học làm người văn minh vậy[B] (ch. I)

− một nhận xét về Mịch, từ cách nhìn hơi trào lộng sang cách nhìn nhấn vào tư cách nạn nhân:

 chị nhà quê vừa được hưởng thú nhục tình thì vẫn ngồi sệt dưới đất [A]

thành:

chị nhà quê vừa mất tân tiết thì vẫn ngồi sệt dưới đất [B] (ch. I)

− một gia giảm sắc thái trong nhận xét về tính cách tú Anh:

   Đó là một người nhỏ nhắn, trắng trẻo, rất đẹp giai nhưng mà có vẻ đàn bà. [A]

thành:

   Đó là một người nhỏ nhắn, trắng trẻo, rất đẹp giai nhưng chỉ tiếc nỗi lại hơi có vẻ đàn bà. [B] (ch. III), v.v…

Điều đáng kể hơn là những sửa chữa có bao hàm ý thay đổi ít nhiều trong các chi tiết cốt truyện. Có thể tác giả đã tính toán lại, chỉnh lại thời gian xảy ra câu chuyện hư cấu; cũng có thể tác giả muốn cặn kẽ hơn về một vài chi tiết sẽ được nhắc tới trong các tiết đoạn sau này của câu chuyện. Chẳng hạn, ở bản A, tác giả đã xác định sự kiện mở đầu tác phẩm là xảy ra vào tháng mười năm 1930, sang bản B, ông xác định lại là tháng mười năm 1932. Hoặc, xung quanh chi tiết nghị Hách đưa tiền – nói là tiền mua rạ –  cho Mịch trước khi tìm cách cưỡng bức cô trong xe hơi:

Đây này, năm cái giấy bạc năm đồng đấy, con đem về mà mua nhiêu mua xã cho chồng. [A] (ch. I)

Ngay ở câu chuyện trên bản đăng báo, số tiền nghị Hách đưa cho Mịch đã rõ chỉ là năm đồng, cho nên viết “năm cái giấy bạc năm đồng” là viết sai; có thể tác giả viết nhịu (viết cũng có chỗ gần với nói, có nói nhịu hẳn cũng có viết nhịu); bản B đã sửa thành:

Đây này, năm cái giấy bạc một đồng đấy, con đem về mà mua nhiêu mua xã cho chồng. [B]

Tuy nhiên, xung quanh chi tiết này, mỗi khi phải nhắc lại ở các chương sau, đôi khi tác giả vẫn tự lầm lẫn; và đây là một nét tâm lý sáng tác có thể hiểu được: khi đã vấp với nó một lần, khả năng vấp lặp lại là có thể, trong nhiều lần sau.

Khi so sánh bản B với bản A, tôi thấy có một dị biệt lớn mà từ đây có thể phán đoán về lý do khiến Hà Nội báo từng phải ngừng đăng Giông tố một thời gian rồi ít lâu sau mới đăng tiếp dưới một tên mới, như thể đăng một tác phẩm hoàn toàn khác. Tôi đã viết về phát hiện này trong một bài báo nhỏ.[2]

Đoạn có dị biệt đó, ở bản B (và được các bản in sau lặp lại, cố nhiên) chỉ có mấy câu ngắn ngủi. Đó là cảnh họp làng Quỳnh Thôn để bàn việc hôm sau lên huyện dự buổi quan huyện mới xử lại vụ kiện mà làng đang theo đuổi.

“Lúc ấy có một ông ra vẻ thạo đời, từ chỗ ngồi nghển cổ nói lên:

− Dám chắc thể nào cũng xử hòa là cùng.

Tức thì cái bè đảng ông chánh hội nhao nhao lên hỏi vặn cái người táo tợn ấy. Trước những câu hỏi vặn, người kia điềm nhiên cãi:

− Thì các cụ phải cho tôi nói mới được chứ! Ai cũng hỏi, cũng bắt trả lời một lúc thì tôi còn biết trả lời ai và không trả lời ai? Tôi tin trước vụ kiện này chỉ đến hòa là cùng, là vì tôi đã được biết ông huyện, từ khi tôi còn bán kẹo ở huyện Lô. Một phần vì lẽ cái làng này vừa rồi bị cái họa truyền đơn cờ đỏ nên lý dịch của làng đã là có lỗi to với nhà nước. Hai nữa là vì quan đến nhậm huyện Lô mới có sáu tháng mà trong huyện có đến tám chín nhà giàu bị cướp vu cho là tòng đảng, rồi thì quan tậu ngay xe ô tô.

Câu nói ấy khiến cho ngần ấy người nhao nhao lên. Vì chưng dân quê có cái chứng nói chuyện mà như cãi nhau nên người ta tưởng đến vỡ mất phòng hội đồng làng.” [B] (ch. VIII)

Xem lại bản đăng Hà Nội báo, ta sẽ thấy bản in sách (bản B) đã bỏ đi một đoạn trên 400 từ của bản A (sau mấy từ “rồi thì quan tậu ngay xe ô-tô”), đoạn này phác vẽ “tiền sự” ông quan ngày hôm sau sẽ ngự trên công đường phán xử nhân danh pháp luật:

“Lúc ấy có một ông ra vẻ thạo đời, từ chỗ ngồi nghển cổ nói lên:

          − Dám chắc thể nào cũng xử hòa là cùng.

Tức thì cái bè đảng ông chánh hội nhao nhao lên hỏi vặn cái người táo tợn ấy. Trước những câu hỏi vặn, người kia điềm nhiên cãi:

− Thì các cụ phải cho tôi nói mới được chứ! Ai cũng hỏi, cũng bắt trả lời một lúc thì tôi còn biết trả lời ai và không trả lời ai? Tôi tin trước vụ kiện này chỉ đến hòa là cùng, là vì tôi đã được biết ông huyện, từ khi tôi còn bán kẹo ở huyện Lô. Một phần vì lẽ cái làng này vừa rồi bị cái họa truyền đơn cờ đỏ nên lý dịch của làng đã là có lỗi to với nhà nước. Hai nữa là vì quan đến nhậm huyện Lô mới có sáu tháng mà trong huyện có đến tám chín nhà giàu bị cướp vu cho là tòng đảng, rồi thì quan tậu ngay xe ô tô. Úi chà, quan ăn của cả con mẹ mò cua một con cá quả ấy. Một mớ rau diếp quan cũng không từ. Một hôm có một con mẹ nhà quê vào huyện nộp một cái phạt vi cảnh, lúc cởi ruột tượng đã để rơi xuống đất mất một hào… Thế mà nó lúi húi cúi xuống tìm thì quan quát mắng nó, sai lính đuổi cổ nó ra. Đến khi con mẹ ấy bị đuổi ra được mươi phút rồi, quan huyện mới cúi xuống nhặt đồng hào ở dưới đế giầy của ngài, từ lúc đồng hào rơi thì rơi ngay gần chân quan nên quan dận ngay giầy lên che đi cho con mẹ ấy không trông thấy.

Cả làng đương hãi hùng kinh ngạc lắng tai nghe cái chuyện không thể tưởng tượng được ấy thì bỗng có người thốt ra một câu: “Đ. mẹ kiếp!!!” Dư luận sôi nổi một hồi rồi một ông cụ quát phải im cả để cái người tò mò ấy kể nốt những câu chuyện có duyên của quan.

           Người kia nói tiếp:

Ngay trước cửa huyện Lô có một thằng chủ hàng cơm, thì quan lại là cánh hẩu của thằng cha ấy. Mỗi khi nó thấy một người nào có vẻ ngơ ngác như muốn vào huyện thì nó lập tức gọi vào hàng, nháy người ấy mấy cái mà bảo rằng nếu không có hai bao chè thì lính nó sẽ vụt cho mấy cái và đuổi cổ ra. Người kia cố nhiên phải bỏ đồng bạc ra lấy hai bao chè mang vào huyện. Sau lúc ấy thì thằng bếp nhà quan huyện đã lẻn ra cửa sau huyện đường, bưng một cái liễn trong có hai bao chè để trả anh chủ hàng cơm. Quan ông đã thế, quan bà cũng chả kém mấy tí. Cả cái chợ huyện Lô đã phải khổ sở vì quan bà. Thúng gạo đáng giá năm hào thì bà lớn chỉ trả có ba. Con gà đáng hai hào chỉ trả có một. Hôm quan đổi đi, mấy cái xe ô-tô chở đồ đi trước. Đến lúc chính xe quan ra thì có một số đông dân cứ ném đá theo xe và chửi rủa quan! Bây giờ về vùng này, nghĩa là cái dân cả vùng này đến ngày xấu số. Ta còn ngu gì mà tin cái ngọn đèn trời ấy. Vì thế mà tôi dám nói quyết rằng về vụ này may ra thì hoà, mà không khéo thì có khi cả làng cùng ông đồ sẽ bị thua!

Câu nói ấy khiến cho ngần ấy người nhao nhao lên. Vì chưng dân quê có cái chứng nói chuyện mà như cãi nhau nên người ta tưởng đến vỡ mất phòng hội đồng làng. [A] (ch. VIII).

Đây hầu như là đoạn duy nhất mà bản in thành sách (bản B) đã bỏ của bản đăng báo (bản A). Gắn nội dung đoạn này (thuộc chương VIII, đăng Hà Nội báo số 8 ra ngày 28.2.1936 và một phần ở số 9 ra ngày 4.3.1936) với các phần truyện đăng trong 11 kỳ đầu dưới tên Giông tố, ta sẽ thấy tiếp ngay sau chương có đoạn kể lai lịch viên quan huyện như trên kia là chương dựng lên cảnh xét xử của ông ta vào sáng hôm sau, ở đó ông ta  gọi đám dân đến huyện đường  là “mày”, “chúng mày” (vào thời điểm mà chính bộ máy nhà nước đã thông báo cấm quan lại xưng hô với dân như vậy, điều mà người phóng viên đã nhắc ông ta); trên công đường, ông ta bảo Mịch về việc bị cưỡng hiếp: “trước pháp luật việc mày như thế là việc làm đĩ không môn bài…”, ông ta doạ lý dịch Quỳnh Thôn nếu không chịu hoà thì sẽ bị tố là vu cáo, ông ta đuổi cổ một nhà báo muốn tường thuật phiên xử của ông, hơn thế còn gọi lính giam nhà báo ấy lại đến hết buổi xử án!

Và, như ta biết, sau đó Giông tố chỉ còn đăng thêm được trong 1 kỳ nữa (số 11, ngày 18.3.1936) mà thôi!

Đoạn truyện bị bỏ nêu trên ngay khi in thành sách (1937), cùng với chương truyện tả một cách châm biếm không che dấu phiên xử của một viên tri huyện, với nội dung công nhiên chống nạn tham quan ô lại của nó, theo tôi, chính là điều đã khiến giới quan lại Bắc Kỳ đương thời bị chạm nọc. Có thể có những viên quan cảm thấy đoạn truyện đó ám chỉ mình; nhưng nếu không phải là một vài cá nhân trong số các bậc “phụ mẫu chi dân” cảm thấy bị ám chỉ, thì giới quan chức thuộc hệ quan lại Nam triều (ăn lương của Triều đình Huế) cũng cảm thấy bị báng bổ không ít. Kiểm duyệt của chính quyền thực dân hẳn là không quan tâm lắm đến chuyện này (cho nên đã không thấy có dấu hiệu của lệnh cấm đăng hay các dấu hiệu kiểm duyệt bỏ từng đoạn như thường thấy đối với bài vở đăng báo in sách đương thời), nhưng sức ép của giới quan lại Nam triều ở Bắc Kỳ lên giới báo chí trong chuyện này hẳn là khá lớn. Người ta có thể đọc ra điều này trong mấy lời thông báo của toà soạn Hà Nội báo: “Đăng một truyện xã hội, hiểu theo nghĩa chặt chẽ của nó, chúng tôi biết ngay từ lúc đầu là một việc khó khăn…Quả vậy, chúng tôi đã đoán không sai. Giông tố nửa chừng phải dứt đoạn…” Có lẽ, chính vì việc này đụng chạm với các quan lại Nam triều  chứ không phải với kiểm duyệt nên sau đó Hà Nội báo có thể đăng tiếp Giông tố dưới tên mới Thị Mịch. Tuy thế, khi in tác phẩm thành sách, tác giả Vũ Trọng Phụng (hoặc nhà xuất bản Văn Thanh) đã buộc phải bỏ cả cái đoạn dài từng gây rắc rối trong lần trình làng tác phẩm của mình.

Đấy là giả thuyết của tôi về trục trặc đáng kể nhất trong việc tiểu thuyết Giông tố lần đầu ra mắt công chúng, dựa vào một chứng cứ văn bản có thể còn thấy được.

Khác với loại dị biệt vừa nhắc trên, trong Giông tố, ở chương truyện cuối cùng lại có những dị biệt giữa bản B với bản A cho thấy tác giả đã sửa chữa so với bản đăng báo, sự sửa chữa này hầu như bộc lộ phản ứng của tác giả trước thời cuộc lúc ấy.

Ta biết, chương XXX kể và tả việc Hải Vân đi Móng Cái để đón tàu thuỷ đi ra nước ngoài, tú Anh, đứa con trai ông vừa nhận lại, đi tiễn ông. Câu chuyện giữa hai cha con họ cũng là câu chuyện giữa một nhà cách mạng với một thanh niên trí thức có đầu óc dân tộc. Những điều Hải Vân nói với tú Anh, tuy theo câu chuyện thì cần được hiểu như tư tưởng, nhận thức của một chiến sĩ thuộc Đệ tam Quốc tế, nhưng – không thể khác được – lại là sản phẩm nhận thức của tác gia Vũ Trọng Phụng, do những gì ông đọc được từ sách báo của cánh tả Pháp đương thời và những gì ông nghe được từ dư luận báo chí trong nước và dư luận truyền miệng xung quanh; song tất cả những điều đó không đảm bảo để các quan niệm mà ông trình bày qua miệng nhân vật Hải Vân lại có thể phù hợp với quan niệm của những người cộng sản đương thời là đồng bào ông, càng khó để chúng có thể vừa ý những người cộng sản lên cầm quyền khi ông đã mất nhưng các tác phẩm của ông vẫn còn được hậu thế tìm đọc. Ở đây thiết nghĩ không cần nhắc lại những cáo buộc vô lý mà một số nhà phê bình, một số ý kiến quyền uy đã bộc lộ hồi những năm 1950-60 trên khía cạnh này ở tác phẩm của Vũ Trọng Phụng,[3] một phần vì nó nằm ngoài phạm vi văn bản học mà ở đây chúng ta đang quan tâm, phần khác, nó cũng là vấn đề đã bị vượt qua.         

Điều nên quan tâm chỉ là sự sửa chữa và bổ sung vào bản in sách 1937 so với bản đăng báo 1936 có thể cho thấy điều gì trong nhãn quan của nhà văn về tình hình thời cuộc.

Tôi xin dừng lại ở mấy đoạn.

 

Bản A:

Tú Anh cúi đầu chịu quở, không đáp. Ông bố tiếp:

− Ta không được coi nước Pháp là kẻ thù mà để cho bàn tay bí mật của phái quân nhân Nhật nó thực hành cái chương trình Liên Á bằng những khẩu hiệu như “Á Đông về tay người Á Đông”! Cái chế độ cũ nó làm khổ dân ta là chính sách của mấy nhà tư bản vua dầu hỏa, vua mỏ, vua ô-tô, vua nhà băng, nhưng đó không phải là toàn thể nước Pháp! Ta có thể hy vọng vào cái nước Pháp bình dân, cái nước Pháp theo ý Rousseau, Danton, Robespierre, Blum, Moutet! Rồi những người ấy sẽ có thế lực làm cho ta đỡ khổ! mặc dầu bây giờ họ chưa có địa vị gì cả. Ta sẽ không được coi nước Pháp là kẻ thù riêng mà trái lại, ta có cả kẻ thù chung trong bọn đồng chủng của ta, cái phái tọa hưởng kỳ thành vẫn bóc lột cái phái lao động, thí dụ thằng nghị Hách là một. Những tư tưởng quốc gia của con vừa hẹp hòi, vừa bất đạt. Phân biệt biên thuỳ với nòi giống là đồ ngu xuẩn, con nên đổi quan niệm đi mà nên coi những người Pháp nghèo khổ là bạn thân, và bọn trọc phú An Nam là kẻ tử thù… [A] (ch. XXX)

 

Bản B:

    Tú Anh cúi đầu lặng thinh không đáp. Ông bố tiếp:

− Ta không được coi nước Pháp là kẻ thù mà để cho bàn tay bí mật của phái quân nhân Nhật nó thực hành cái chương trình Liên Á bằng những khẩu hiệu như “Á Đông về tay người Á Đông”! Cái chế độ cũ nó làm khổ dân ta là chính sách của bọn tư bản, vua dầu hỏa, vua mỏ, vua ô-tô, vua nhà băng, nhưng không phải là của toàn thể nước Pháp! Ta có thể hy vọng vào cái nước Pháp bình dân, cái nước Pháp theo ý Rousseau, Blanqui, Jaurès, Barbusse…  Ta sẽ không được coi nước Pháp là kẻ thù riêng mà trái lại, ta có kẻ thù chung trong bọn đồng chủng của ta, cái phái tọa hưởng kỳ thành vẫn bóc lột cái phái lao động, thí dụ thằng nghị Hách là một. Những tư tưởng quốc gia của con vừa hẹp hòi, vừa bất đạt! Vả lại trung thành với  nước Pháp để tiến sang cực tả là điều rất cần… [B] (ch.XXX)

(xem kỹ hơn ở khảo dị số 20, chương này)

Trong khá nhiều ý mà tác giả sửa chữa ở đoạn này, từ bản đăng báo sang bản in sách, tôi lưu ý những tên tuổi được tác giả đưa ra làm tiêu biểu cho “nước Pháp bình dân”; danh mục gồm Rousseau, Danton, Robespierre, Blum, Moutet ở bản A (đăng báo 23/9/1936), đã được thay bằng Rousseau, Blanqui, Jaurès, Barbusse ở  bản B (in sách, xong 20/4/1937). Ngoài nhà khai sáng  J. J. Rousseau được giữ nguyên, còn lại đều được thay: Hai nhân vật của đại cách mạng Pháp là Danton và Robespierre bị bỏ để thay bằng nhà cộng sản không tưởng Blanqui; hai nhân vật của chính phủ bình dân là thủ tướng L. Blum và bộ trưởng M. Moutet được thay bằng hai đại diện cánh tả: Jaurès, người sáng lập báo Humanité, và H. Barbusse, một trong những nhà văn mở đầu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Pháp.

Ta nên lưu ý rằng tiểu thuyết Giông tố (và một số tác phẩm xuất sắc khác của Vũ Trọng Phụng) được sáng tác, đăng báo và in thành sách hầu như hoàn toàn trong thời gian Mặt trận bình dân cầm quyền ở Pháp (6/1936 – 4/1938). Dư luận Đông Dương đặt nhiều hy vọng vào chính phủ bình dân, song ảnh hưởng của chính phủ này hầu như chỉ có biểu hiện ở chỗ đời sống xã hội chính trị ở thuộc địa này được cởi mở chút ít; sau đó, sự chờ đợi những dấu hiệu khả quan hơn không được đáp ứng đã khiến tâm trạng thất vọng dần dần tăng lên và một phần dư luận nhìn về phía cánh tả; sự sửa chữa danh mục những tên tuổi tiêu biểu cho “nước Pháp bình dân” trong Giông tố từ bản đăng báo sang bản in sách, tức là từ giữa 1936 sang đầu 1937, cho thấy Vũ Trọng Phụng là một trong những người thuộc xu hướng nhìn về phía cánh tả ấy. Điều mỉa mai là, chính những người đồng bào của họ Vũ đương thời thuộc cánh tả – và đến sau năm 1945, nhất là sau 1954 ở miền Bắc, thì đã được độc quyền nói tiếng nói chính thống ở xứ này, – chính những người ấy lại không thừa nhận biểu hiện thiện cảm với cánh tả trong di sản của nhà văn quá cố!      

Một ý khác cũng thấy rõ trong đoạn có nhiều dị biệt này là câu Hải Vân khuyên tú Anh: “Phân biệt biên thuỳ với nòi giống là đồ ngu xuẩn, con nên đổi quan niệm đi mà nên coi những người Pháp nghèo khổ là bạn thân, và bọn trọc phú An Nam là kẻ tử thù…” ở bản A, sang bản B được sửa thành: “Vả lại trung thành với  nước Pháp để tiến sang cực tả là điều rất cần…”

Diễn đạt ở bản A về tinh thần quốc tế là tinh thần giai cấp, “bốn phương vô sản một nhà”, là đối lập với tinh thần quốc gia dân tộc; có vẻ như Vũ Trọng Phụng thấy diễn đạt ấy không ổn, không phù hợp với những quan sát của mình về lập trường dân tộc ở những người theo cánh tả. Ông đã sửa bằng cách bỏ lối đối lập gay gắt đó đi, chỉ giữ lại một khẳng định “những tư tưởng quốc gia của con vừa hẹp hòi vừa bất đạt”, đồng thời thay đối lập trên bằng một ý khác: “Vả lại trung thành với nước Pháp để tiến sang cực tả là điều rất cần”. Nhu cầu “tiến sang cực tả” lại được lấy làm lý lẽ biện minh cho sự “trung thành với nước Pháp”, nước đang cai trị xứ mình, – nghe có vẻ khôi hài đối với người có tư tưởng tự do, song lại là một hướng suy nghĩ thực tế trong giới trí thức thuộc địa, không kể khuynh tả hay khuynh hữu.

Xin dẫn một đoạn có dị biệt khác, cũng thuộc chương này.

 

 Thế ở bên ấy cha phải làm những công việc gì?

 Một giáo sư của Collège d’Asie ở Mạc-Tư-Khoa. [A] 

 –  Thế ở bên ấy cha phải làm những công việc gì?

 Cha đã được thay Nguyễn Ái Quốc để làm một giáo sư của Collège d’Asie ở Mạc-Tư-Khoa. [B]

Ở sưu tập Hà Nội báo mà bản chụp vi phim hiện còn, đoạn này rơi đúng vào góc trang báo bị xé mất một phần, song có thể đoan chắc đoạn mấy từ “Cha đã được thay Nguyễn Ái Quốc để làm” là không có ở bản A, chỉ có câu “Một giáo sư của Collège d’Asie ở Mạc-Tư-Khoa” để Hải Vân trả lời câu hỏi “Thế ở bên ấy cha phải làm những công việc gì?” của tú Anh.

Tác giả Vũ Trọng Phụng chỉ mới nêu tên Nguyễn Ái Quốc vào văn bản in thành sách Giông tố hay bản đăng báo phải bỏ điều này? Tôi nghiêng về ý trước, tức là nhà văn mới chỉ gắn tên nhân vật có thật vào thế giới hư cấu của mình khi tác phẩm in thành sách. Đọc lại báo chí công khai đương thời, có thể thấy tên tuổi và hành tung của nhà cách mạng này đôi khi thoáng hiện như một nhân vật ít nhiều thần kỳ, gợi nên hy vọng cho dân chúng. Vào năm 1929 Phan Khôi có viết trên báo Thần chung ở Sài Gòn về tâm lý “trông lên” của người Việt đương thời: “Nghe tiếng Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, bây giờ cả đến Nguyễn Ái Quốc nữa, thì người ta tưởng rằng nội một người trong mấy người ấy cũng đủ lấy nước Nam lại được…”[4]. Nói chung, việc nhắc đến tên Nguyễn Ái Quốc trên báo chí đương thời không phải là điều bị cấm đoán, toà soạn Hà Nội báo không có lo ngại gì để yêu cầu tác giả bỏ đi mấy từ nêu tên nhân vật nổi tiếng đó. Điều ta nên quan tâm ngày nay từ khía cạnh văn bản học chỉ là sự bổ sung văn bản này cho thấy điều gì ở tác giả thiên truyện. Nếu ta gắn quan sát này với điều nhà văn họ Vũ trả lời nhà phê bình Xuân Sa trên báo chí Sài Gòn năm 1937 về chính Giông tố, sau khi cuốn sách ra đời ít lâu, ta sẽ thấy cái tên Nguyễn Ái Quốc của nhà cách mạng theo xu hướng quốc tế đã gây ấn tượng khá mạnh cho Vũ Trọng Phụng về lập trường dân tộc của những người cộng sản Việt Nam [5].

Tóm lại, sự sửa chữa tác phẩm Giông tố, ở lần in thành sách, vẫn thể hiện một sự nhất quán trong tâm lý sáng tác, trong nhận thức xã hội chính trị của nhà văn.    


 

[1] Ngọc Giao (1953), Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng // Mới, Hà Nội, số Xuân Quý tị 1953.

[2] Lại Nguyên Ân (2007), Gặp trắc trở vì chống quan tham (chuyện về việc Giông tố lần đầu đăng báo) // Thể thao&Văn hoá, H.-HCM., số Tân niên  Đinh Hợi (24 /2/2007).

[3] Xem các bài của Văn Tân (1957), Hoàng Văn Hoan (1960) được trích in trong cuốn: Vũ Trọng Phụng, con người và tác phẩm /Nguyễn Hoành Khung và Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn/ Hà Nội: 1994, Nxb Hội Nhà Văn, tr. 207-210, 219- 244. 

[4] Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1929, Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr. 67.

[5] Lại Nguyên Ân, Vũ Trọng Phụng với hai tờ báo Sài Gòn năm 1937 // Kiến thức ngày nay, Tp.HCM, s. 571 (20/ 6/2005), tr. 8-9, 109-111.

 

 

 

 

© Copyright Lại Nguyên Ân 2007