7/ 7

Đến làng Hòa Ngãi tập trung. Được phát quân trang quân dụng. Giống anh bộ đội tệ!

Chiều, lên đường.

Lần đầu tiên trong đời thực sự khoác ba lô nặng trĩu trên vai dấn bước.

Làng Hòa Ngãi ở phía nam thị xã chừng 3km. Bọn mình phải hành quân qua thị xã để ra ga lên tàu...

Dọc phố 2 và 3, [1] nhân dân đứng rất đông hai bên đường. Những bà mẹ có con ra đi thì lật đật chạy theo cố dúi cho con những kỷ niệm cuối cùng của sự chăm sóc trong gia đình.

Chú, thím mình cùng các cô trong HTX, các em cũng theo mình ra tận sân ga. Ở ga, một cuộc tiễn đưa chưa từng có trong đời mình đã diễn ra.

Những con mắt nhìn nhau chăm chú, hy vọng ghi lại hình ảnh của nhau trong ký ức. Hàng trăm người đã khóc. Bạn bè thì ôm chầm lấy nhau. Các bà mẹ thì không sao nói năng mạch lạc được. Các em nhỏ thì khóc lóc thực sự và mình cũng không sao cầm lòng được. Hồ − người bạn cùng phố − nhảy lên ôm hôn mình lần cuối. Em Chung bướng bỉnh của mình thì vừa nức nở vừa giữ chặt lấy chúng mình như muốn níu các anh lại.

Kể cả những người, ngày thường tưởng như xa lạ mà giờ đây đối với mình cũng trở nên rất thân thiết...

Và tàu chuyển bánh đi xuôi. Lúc đó là 19h30' đúng.

Mình nhoài ra cửa toa nhìn mọi người lần cuối và chỉ khi đó mới trông thấy chị Th. hớt hải chạy dọc sân ga gọi tên mình... rồi vấp ngã.

Tất cả ở lại phía sau, nhưng không sao quên được những hình ảnh xúc động này.

Tàu tiếp tục lao đi.

Mình quay vào trong toa, ngồi im lặng. Một sự trống rỗng xâm chiếm tâm hồn mình. Người ta chia cho mỗi người vài bao thuốc lá đi đường (1 bao Điện Biên + 2 bao Tam Đảo) nhưng mình không biết hút nên cho hết mọi người.

Khi qua quê hương mình thì đã khuya rồi. Nhìn lại những hình ảnh chập chờn trong đêm mình vẫn phân biệt rõ bóng dáng cây dừa nhà mình... ngậm ngùi, luyến tiếc.

Gục người trên chiếc bàn nhỏ sau cửa sổ toa xe, mình mặc sức cho những suy tưởng nặng nề.

Đến Ninh Bình, tất cả phải xuống đi bộ. Cầu Ninh Bình bị bom thù làm gục, bọn mình lần mò qua các hố bom nham nhở. Trời tối quá, không biết đã mấy giờ rồi. Theo cầu phao qua sông vẫn có thể thấy rõ chiếc cầu cũ dạng “vòm" gục xuống lòng sông... Đột nhiên một cảm giác nặng nề về chiến tranh xâm chiếm tâm hồn. Cái "vòm" nửa nổi nửa chìm dưới sông, trong đêm lặng, cứ in mãi trong óc mình. Ngoài nó ra là màn đêm đen.

Sang sông, cả đơn vị lại tiếp tục lên tàu hỏa. Nhưng bây giờ không phải là đoàn tàu khách lịch sự nữa mà là một dãy các toa chở than và đá, toa đen, thành thấp. Chẳng còn biết sạch bẩn ra sao, tất cả leo lên, ngồi xuống sàn toa. Trên đầu, bầu trời không trăng, nhưng đầy sao, hai bên đã thấy những núi đồi thấp của "miền Thanh". Không ai nói chuyện với nhau cả, chỉ còn tiếng đầu máy và tiếng va đập của đoàn tàu.

Lần đầu tiên trong đời, mình mới vào đây, nhưng mệt quá chẳng thiết ngắm nhìn gì cả. Mà thực ra, ngồi trong toa trần này chỉ có thể thấy được không gian phía trên mà thôi.

Thế là một bước ngoặt rẽ trong đời đã đến. Cái gì đang chờ ở phía trước? Tiếc rằng, buổi khởi đầu của sự ra đi lại diễn ra trong đêm. Điều đó chỉ dễ gây ra những ý nghĩ không nhẹ nhõm gì!

Đến Đò Lèn thì tàu không thể đi tiếp được. Bọn mình lục tục lần xuống đi bộ. Cầu Đò Lèn cũng đã bị phá hủy. Một chiếc cầu phao "khốn khổ" được ghép tạm phía hạ lưu cầu cũ. Trời không trăng nhưng sáng. Lần đầu hành quân "bộ" thành ra ai nấy đều thấy vất vả và lúng túng. Một hàng dài "lếch thếch", chỗ thì dồn lại, chỗ thì thưa thớt, người đeo kẻ gánh gồng, xoong chảo kêu xủng xoảng.

Phía trước mình là Minh "Trố" (Anh ta người ở Thanh Liêm, người nhỏ, có con mắt lồi) cùng một cậu nữa mà mình không biết tên − nhũng nhẵng khiêng một thùng mỡ. Thùng mỡ nặng, chiếc quang thì dài, cầu phao bập bềnh khó đi, người thì mệt, thành ra Minh cứ lẩm bẩm văng tục hoài. Đến giữa cầu đột nhiên Minh "Trố" đòi nghỉ và hạ thùng mỡ xuống sàn cầu và cũng đột nhiên giục bạn khiêng đi tiếp. Mình vừa kịp nhận ra: Minh vừa thò chân dận lên đáy quang vừa nâng đòn gánh lên thì cả thùng mỡ đã đổ kềnh, mỡ chảy lênh láng ra cầu.

Có lẽ nghĩ ra trò ma ranh này, Minh muốn trút đi cái "nợ" của mình. Riêng mình, thì khỏi phải nói, mệt tưởng đứt hơi, đôi lần hầu như không muốn bước nữa.

Đêm vẫn đi và tất cả vẫn cứ đi. Đêm nay sẽ đến đâu đây!

 

8/ 7

 Ra đi!

Hàm Rồng đây rồi! Cầu bị bắn phá hư hại nhiều. Bọn mình chạy qua cầu một cách vất vả. Đầu cầu, một đoạn dài chỉ thấy hố và đất đá. Tại sao không có người? Còn đây là Cầu Bố: Chỉ thấy những hố bom và mùi thuốc nổ khét lẹt. Địch mới oanh tạc chiều hôm trước, trong đêm chỉ thấy những bóng người thu dọn và tìm xác chết. Không khí nặng nề kinh khủng và thần kinh mình thấy như căng ra, quên cả mệt.

 Nghe đâu 50 người đã bị chết tại đây, hàng chục nóc nhà đã bị cháy, hàng trăm cây dừa bị tàn phá. Dã man quá. Trong đêm, cảm xúc thêm nặng nề hơn. Và cả đơn vị như "co" lạ vì những dự cảm.

Qua Cầu Bố, quốc lộ 1 càng trở nên hoang vắng, ven đường dãy phi lao im phăng phắc. Cái mệt rũ người lại kéo đến, chân đau rát, vai mỏi nhừ và đột nhiên bụng mình thấy lâm râm đau. Cái đau cứ tăng dần, và rồi không còn cố được, mình bỏ mặc mọi sự "lủi" ra rìa đường gục xuống một gốc phi lao nằm bất động, rồi thiếp đi không hay biết gì nữa.

Đột nhiên có ai lay nhẹ vai, choàng dậy ngỡ ngàng. Phải một lúc, định thần mình mới hiểu rõ được thực trạng và biết rằng chỉ có T. ở bên. Không còn ai cả. Xa xa có ánh pháo sáng chập chờn.

− Cố lên Th! − Đau bụng phải không? Dầu xoa đây!...

Mình không còn đau bụng, nhưng thực sự xúc động về sự quan tâm của T.

Và giờ đây, tất cả đã nghỉ lại trong một làng nhỏ xứ Thanh. Dừa, nhiều dừa quá.

Chiều đến, trở dậy! Tiểu đội "con gái" trong phố không hiểu mua đâu được vài con vịt đem làm thịt. T. đến rủ mình đi ăn, nhưng không sao còn bụng dạ nào mà ăn được! Mệt, vẫn mệt hoài!

 

 9/ 7

 Ra đi!!

Cái "không khí Cầu Bố" hôm qua đã đem lại hậu quả không hay cho đơn vị: Công và Hương đã đào ngũ. Đây là hai cậu ở phố Châu Thủy (Một phố dân chài ven sông Đáy). Riêng Công là người đã thay mặt đoàn nhận cờ của khu phố, khi ra đi. Thật khôi hài.

Dẫu sao, điều đó cũng có tác động không nhỏ đến mọi người khi tiếp tục ra đi đêm nay!

Trước mắt là dòng sông Chu. Đây là nơi địch thường xuyên bắn phá. Phải nhanh chóng vượt sông. Bọn mình vội vã xuống thuyền, lòng nặng nề, bải hoải... Những con thuyền nhỏ rời bến.

Đến giữa sông, mưa đột nhiên ập xuống. Mưa to quá, lại có gió táp... Một vài cô gái trong phố (Thành, Mỵ) lén lút thả "ruột tượng" gạo xuống sông. Mình không ngờ họ dám làm như vậy! Có lẽ họ sợ đắm đò, cũng có thể đây là cơ hội để họ trút bớt gánh nặng cho mình.

Người ướt sũng, rét run lập cập... và khi bước lên bờ thì cứ như muốn gục xuống. Dốc sông trơn tuột, thay nhau ngã hoài. Đêm tối đen, khó nhận ra nhau, và rồi đã bị lạc nhau. Một nửa tiểu đội mất hút, còn lại bơ vơ không tìm ra lối đi, đành chờ sáng và tìm nhà dân trú lại. Ở đây máy bay địch bay thấp quá.

 

10/7

 Ra đi!!

Đêm nay được nghỉ sớm hơn mọi đêm sau một đợt chạy dài hàng hai chục km. Đường đi đẹp quá, hai bên đường là những rừng phi lao vi vút, những dãy cọ và dừa dào dạt. Trăng sáng. Bọn mình hành quân đã cảm thấy quen quen. Chẳng mấy chốc đã lại ở trên quốc lộ 1. Nguy hiểm lại đến. Máy bay hầu như thường trực trên đầu và vừa đến trạm nghỉ máy bay đã bay sát đầu và pháo sáng bung ra. Tưởng như chúng đã phát hiện thấy dấu vết của đơn vị. Và trong giấc ngủ còn nghe thấy tiếng bom rốc-két oanh tạc ầm ĩ gần đây.

Thấy ghê người!!!

 

 11/ 7

 Ra đi!!!

Đã là đêm thứ 5. Đường dài như vô tận. Núi non trập trùng soai soải ven đường vô mãi, vô mãi. Cảnh thì đẹp quá, nhưng đường đi thì cũng quá nguy hiểm. Bọn mình phải vượt qua 9 cái cầu, trong đó hầu hết đã bị tàn phá. Lác đác dọc đường, những vết tích của bom và rốc-két rất ghê rợn, những xác ô-tô nằm rũ, những thành cầu bị bật tung. Tất cả... như tan hoang.

Bọn mình cứ phải chạy, chạy hoài. Nhiều lúc tưởng muốn đứt hơi.

Khát quá, bi đông nước thì hết nhẵn, nhiều lúc chẳng còn cần biết ruộng lúa ven đường sạch bẩn ra sao, cứ thi nhau vục đầu xuống uống ngon lành. Có lúc tạm giải lao bên đường, phát hiện thấy những cây chuối của dân còn sót lại cũng thi nhau bẻ ra lột lấy nõn nhai ngấu nghiến. Chỉ có trăng là vẫn vằng vặc. Và bọn mình lại qua những khu rừng thông um tùm, rừng xú bát ngát.

Cứ đi, đi với chiếc ba lô trĩu nặng cứ níu lại phía sau.

12/ 7

 Ra đi!

Lại qua đêm thứ 6. Bị bỏ sót lại. Chạy dài không biết mỏi. Cuối cùng lại kịp đoàn quân và lại đi. Dốc nhiều quá, cứ phải cắm cổ mà vượt qua những quả đồi thoai thoải, hai bên là những rừng cây um tùm, rồi những thung lũng. Có lẽ đường này gần Lào lắm!

 

13/ 7

 Ra đi!

Đêm thứ 7. Rừng rậm rạp. Hai bên đường là vách núi cao, cây cối um tùm. Đêm trăng thành ra mọi cái như huyền ảo bởi tiếng hô của các cô gái xứ Nghệ làm việc trong đêm và có cả những tiếng ca của các chàng trai cứ vang ngân mãi.

 

14/ 7

 Nghỉ ngơi!

Đây là Nghĩa Đàn, Nghệ An.

Bọn mình tạm thời phải ở đây thi công đường sắt trong một thời gian tương đối dài. Khu vực này gần như vùng trung du. Có đồi, có rừng, có đồng ruộng.

Ngày ngày cả đơn vị kéo nhau vào ngủ trong rừng ven bờ suối, dưới các gốc cây um tùm. Thơ mộng ra phết. Tối đến lại trở ra xóm dân nho nhỏ trên quả đồi ven rừng, nghỉ ngơi. Dân ở đây hầu hết là dân đi khai hoang, thành ra nhà cửa còn tồi tàn, cuộc sống còn khó khăn. Xung quanh nhà chỉ thấy sắn. Lác đác mới có vài cây mít nho nhỏ. Nhà nọ ở cách nhà kia không xa. Nhà mà mấy anh em mình trọ là gia đình một bác trung niên (hai vợ chồng và hai đứa con không lớn). Vợ có vẻ ốm yếu hơn. Gia đình cho mượn hẳn một gian. Bọn mình kê các tấm ván (kiểu giường cá nhân) thành phản để nằm chung. Chiếc phản kê sát thành cửa, thành ra đêm nằm có thể nhìn thấy rõ cả khoảng trời trên sân.

 

22/ 7

 Suốt tuần nay cả đơn vị chỉ lo lĩnh trang bị, vật liệu, làm nhà và ổn định tổ chức. Cả một khu lán đã được dựng lên xung quanh một bãi trống trong rừng. Ở đó chỉ dành cho nữ, nhà bếp và một vài tiểu đội nam Thanh Liêm. Ở ngoài này muốn vào ăn cơm bọn mình phải vượt qua một khu ruộng lúa không rộng lắm. Kể ra không có gì khó khăn nếu không gặp những ngày mưa gió.

Mình được bổ nhiệm làm tiểu đội trưởng. Thôi được, phải cố gắng thôi!

Có cái là xưa nay mình có bao giờ lại có một chỗ đứng về phương diện "lãnh đạo" trong xã hội. Trái lại, chỉ luôn luôn là nạn nhân của những "biện pháp lãnh đạo" của những người khác. Mình rất thấu hiểu nó! Cho nên giờ đây mình ước ao những người khác hãy hiểu và thông cảm với mình. Cùng nhau xây dựng cái tập thể này theo đúng bản chất của nó.

Phải tốt lành, phải khác!

Tiểu đội mình gọi là A6. Gồm hầu hết là học sinh lớp 10 "trượt", [2] trong đó có một anh đang học dở dang Đại học Bách khoa và vài cậu trẻ hơn là thanh niên mới lớn, cũng đã học cấp 2. Duy chỉ có Hinh (một thanh niên công giáo ở phố trên sông) là học cấp 1, Đông Dương cũng đã học lớp 5.

Đã lĩnh dụng cụ. Bọn mình phải thi công nền đường sắt (nằm trong đoạn Cầu Giát − Thái Hòa).

Tối thi công đầu tiên. Chập tối, cả đơn vị kéo ra hiện trường. Đường đi phải qua một làng công giáo rồi mới ra đường ô-tô đất đỏ... Bên kia đường là khu vực trồng cà phê của nông trường Đông Hiếu. Ngược về phía Cầu Giát chừng hơn 1km thì đến khu vực phải thi công. Các A được phân phần việc của mình. Nhiệm vụ là đào đất một chỗ gánh ra đổ nền, đầm lèn.

Ngày thứ hai. Đêm xuống, trời tối sẫm, màn trời u ám, mưa rơi! Công việc tiến hành vất vả quá. Phải lấp một khúc suối khá sâu. Mình rất lo vì mưa. Phải cố thôi!

Mưa cứ rơi hoài. Tất cả đành phải nghỉ sớm. Dọc đường về, khi qua một cống thoát nhỏ thoát nước của một con suối chui qua đường, Thực đã bị rớt. Cống tuy nhỏ nhưng từ mặt đường xuống đáy suối cũng khá cao, thành ra Thực bị đau quá. Tiểu đội phải thay nhau cõng Thực về. Chả hiểu nó có hiểu gì về những hành động và nhiệt tình của tập thể hay không?

 

 26/ 7

      Máy bay nhiều quá. Không hề xúc động hoặc sợ sệt gì.

Chú thích (tháng 07/1965):

[1]  “phố” nói ở đây có lẽ  không phải đường phố mà là “tiểu khu” tức là đơn vị tương đương cấp “phường” ở các đô thị ngày nay.

[2] học sinh lớp 10 “trượt” là có ý trỏ những người như TG: tốt nghiệp lớp 10 phổ thông nhưng bị trượt kỳ thi vào đại học 1964.