TƯỞNG NHỚ NHÀ NGHIÊN CỨU ĐỖ ĐỨC HIỂU

 

         Hôm 5/3/2003 vừa qua, giới nghiên cứu, giảng dạy văn học ở Hà Nội đã tiễn biệt nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học, giáo sư Đỗ Đức Hiểu (16/9/1924 – 27/2/2003) về nơi an nghỉ cuối cùng.

        … Năm 1946, chàng sinh viên luật 22 tuổi ấy rời Hà Nội đi kháng chiến rồi vào nghề thày giáo tại trường Hùng Vương (Phú Thọ) và suốt đời ở luôn trong nghề dạy học.

Năm 1955 ông được cử vào Ban tu thư (Bộ Giáo dục) soạn bộ giáo khoa môn văn cho học sinh trung học. Từ 1958 ông là giảng viên phụ trách môn văn học phương Tây của khoa Khoa học xã hội trường Đại học tổng hợp Hà Nội. Có thời gian ông được cử đi dạy tiếng Pháp tại Đại học Nam Kinh (Trung Quốc), đi nghiên cứu tại Đại học Paris VII (Pháp), nhưng phần lớn thời gian đời mình ông dành cho giảng dạy nghiên cứu trong nước. 

Với vốn hiểu biết về văn học Pháp được học từ bậc trung học trường Pháp-Việt, Đỗ Đức Hiểu đã tự học, tự đào tạo mình thành một chuyên gia ở bậc đại học về bộ môn này. Bên cạnh việc giảng dạy, hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu sinh, nhà giáo Đỗ Đức Hiểu đã cho in khá nhiều sách nghiên cứu, biên khảo. Đầu những năm 1980s, bộ “Từ điển văn học”  2 tập khổ lớn, Đỗ Đức Hiểu chủ biên, với sự tham gia của hàng chục chuyên gia khác, ra mắt lần đầu tiên, đánh dấu thêm một bước trưởng thành của ngành nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Chính vào lúc bộ từ điển này đang được lên khuôn chuẩn bị cho lần ra mắt thứ hai với tính tham vọng vượt xa lần trước, thì giáo sư Đỗ Đức Hiểu, người chủ biên bộ sách, lại đã không thể nào chờ đợi thêm để được thấy gương mặt mới của công trình.

Một nét đáng nhớ, nét tạo ra đặc điểm cho tiểu sử khoa học của Đỗ Đức Hiểu là khả năng tự đổi thay, tự làm mới chính mình, sau hành trình hơn ba chục năm cầm bút, bỗng thấy những gì mình viết ra đã trở nên xa lạ. “Tôi đã đánh mất tôi, tôi là người khác, là kẻ xa lạ với chính tôi: tôi mất lòng tin vào tôi, tôi đi tin người khác, đó là bi kịch của tôi” (Đôi lời tâm sự, 1997). Ông đã tự trang bị lại một phần kiến thức mới, tự thay đổi cách phân tích trên hàng loạt dữ kiện văn học sử, tự vượt qua xu thế biệt phái, tìm cách hội nhập vào tư duy nghiên cứu của các khoa học nhân văn trong thế giới hiện đại. Các bài nghiên cứu, tiểu luận, phê bình mà ông tập hợp vào các cuốn “Đổi mới phê bình văn học” (1993), “Đổi mới đọc và bình văn” (1999), “Thi pháp hiện đại” (2000), hầu hết đều in dấu những run rẩy vừa cả quyết vừa ngỡ ngàng của nhà nghiên cứu đang muốn nghĩ mới viết mới trên những thi liệu văn liệu hoặc rất xưa hoặc rất mới.

Có lẽ đấy là hình ảnh cuối cùng về mình mà chính ông muốn còn đọng lại trong mắt thế hệ đến sau.

6/3/2003