KHI CÁC NHÀ XUẤT BẢN

THỜ Ơ VỚI HỘI SÁCH

 

         Bước chân vào Hội sách Hà Nội 2014 tại khu vực Hoàng thành, đi lướt qua các quầy sách của các đơn vị tham gia trưng bày và bán sách, những ai tinh ý sẽ nhận ra rằng, các đơn vị có nhiều gian hàng hơn cả, − là các đơn vị phát hành, các công ty văn hóa truyền thông, các “nhà sách”, và họ hầu hết đều là các đơn vị tư nhân. Trong khi đó, số lượng các nhà xuất bản “chính quy” (đơn vị kinh tế nhà nước) tham gia khá ít ỏi; nếu nhà xuất bản nào có tham gia cũng chỉ với một vài quầy nhỏ. Khá nhiều nhà xuất bản quen tên đã không tham dự hội sách này. (Để khỏi phiền lòng những tên tuổi “cố nhân” ấy, tôi không nêu tên họ ra đây!)

         Nếu ở xa, không tới đây, nghe điều này hẳn người ta sẽ lấy làm lạ. Nhà xuất bản tức là đơn vị chuyên làm ra sách và bán sách; vậy thì tại sao các đơn vị ấy lại thờ ơ với những cuộc hội sách mà mỗi năm mới có một vài lần?

         Một vài người hơi biết tình hình, có thể đáp ngay: Số đông nhà xuất bản bây giờ có sách đâu mà bán! – Thật thế ư? Nhưng lẽ nào lại thế? Nghe nói mỗi nhà xuất bản hàng năm được cấp đến dăm bảy trăm giấy phép, thế thì sách đâu có ít? − Ôi, thế thì đây là câu chuyện dài rồi…

         Chuyện là từ đầu những năm 1990, trước thực tế các tư nhân hoặc nhóm tư nhân (gọi là “bên liên kết”) tham gia ngày càng nhiều vào hoạt động in ấn, phát hành sách và văn hóa phẩm, ngành quản lý nhà nước về văn hóa-thông tin bèn … mở hé luật xuất bản, hợp pháp hóa sự tham gia của các “bên liên kết”, nhưng vẫn đặt họ phụ thuộc vào các nhà xuất bản vốn là đơn vị nhà nước. Mấy lần sửa rồi thực thi, thực thi rồi sửa, suốt vài chục năm ròng, rốt cuộc quy định đại khái vẫn nguyên như cũ.

         Nhưng thực tế có lối đi của nó.

Ban đầu các nhà xuất bản được lợi vì chi phối được các “bên liên kết”, − tôi xin được giấy phép thì anh mới được làm sách này sách kia! Quang cảnh giới xuất bản khi đó cũng giống một bệnh viện khi xung quanh nó mọc lên những phòng khám mini, sẵn sàng làm thuê các công đoạn như soi, chụp, chiếu, v.v… hoặc cũng giống như xung quanh đài truyền hình mọc lên nhan nhản những “hãng” sẵn sàng nghe ai đó trong đài “ới” một tiếng là thúc quân đi làm thuê, thực hiện các clip, các phóng sự mini, v.v…

Trong khi các nhà xuất bản ngày càng mải chạy theo mấy việc: soát xét bản thảo, xin giấy phép, v.v… thì đồng thời lại ngày càng ít tham gia trực tiếp vào thị trường sách (do không hoặc ít bỏ vốn in sách và phát hành sách). Dần dà, các nhà xuất bản trên thực tế chỉ còn là cánh tay nối dài của cục xuất bản. Trong khi đó, các “bên liên kết” đương nhiên gắn với việc bỏ vốn in sách, tổ chức bán sách. Họ chiếm lĩnh thị phần sách ngày càng lớn. Họ lập thành những công ty (văn hóa-truyền thông); trong số này, những công ty có dấn vốn, có tham vọng, không chỉ trong chờ vào việc làm ra nội dung sách từ phía nhà xuất bản, ngược lại, họ tổ chức lực lượng làm sách ngày càng bài bản, có chương trình dài hơi, có các bộ phận biên tập nội dung, kỹ thuật, thậm chí tìm được sự cố vấn của các chuyên gia thông thạo ở mỗi lĩnh vực, rồi còn mở ra nắm những việc như mua bản quyền các tác giả trong nước, mua bản quyền để có sách dịch từ tác giả nước ngoài, rồi tổ chức bán sách qua internet, v.v… Chỉ có giấy phép cho mỗi xuất bản phẩm là họ phải xin nhà xuất bản; nhưng…

Đến một lúc nhất định, tương quan giữa nhà xuất bản với các “bên liên kết” sẽ thay đổi căn bản. Số đông nhà xuất bản chỉ còn một bộ phận biên tập nhỏ nhoi yếu ớt về năng lực, do một thời gian dài công việc biên tập rút lại chỉ là xem qua nội dung các “bên liên kết” đưa tới để quyết định có đứng xin giấy phép cho đầu sách này khác hay không, chứ không cần đến khả năng nghĩ ra, tổ chức ra các cuốn sách. Năng lực biên tập xuất bản sút kém dần đi (không ít trường hợp biên tập viên không làm nổi mục lục sách!), năng lực kinh tế thì sút kém rõ ràng, vì đã “được” (hay là bị?) biến thành cánh tay nối dài của cục xuất bản, thay vì thành những chủ thể vững mạnh trên thị trường sách.

Đến bây giờ, cái “nhãn” nhà xuất bản không còn oai vệ như xưa nữa. Trong khi một số “nhãn” của các công ty văn hóa truyền thông lại lên ngôi!

Thật ra, vẫn có một số nhà xuất bản gắng đuổi kịp xu thế chung (xin được nêu tên các Nxb. Trẻ, Phụ nữ, Kim Đồng, Tri thức,…). Bên cạnh đó vẫn có một số nhà xuất bản được đặc cách về nguồn kinh phí (các Nxb. Chính trị quốc gia, Quân đội, …) hoặc được mặc nhiên độc quyền một khu vực sách nhất định (ví dụ Nxb. Giáo dục), nên dường như vẫn yên trí đứng ngoài cuộc chơi chung. Nhưng số đông các nhà xuất bản thì đã và đang hụt hơi trên thị trường sách. Họ hầu như chỉ tham dự làm thủ tục xin giấy phép cho các đầu sách. Sách in ra mang nhãn nhà xuất bản này thật, nhưng đó không phải sản phẩm của họ. Nói chính xác: sách mang nhãn nhà xuất bản nhưng lại không phải là thương phẩm của nhà xuất bản ấy. Nó là sản phẩm của công ty văn hóa truyền thông, của nhà sách, của cá nhân hoặc nhóm đã bỏ vốn in ấn và phát hành. Thậm chí, có người trong các “bên liên kết” ấy thổ lộ: nếu không mất khoản chi phí cho nhà xuất bản để lấy giấy phép, giá bán sách có thể giảm thêm ít nữa! Điều vừa nói cũng hàm nghĩa: số đông nhà xuất bản “bán giấy phép” ngày nay đang trở thành bộ phận ăn bám vào các “bên liên kết”! Sự kỳ vọng của giới quản lý hồi những năm 1990 buộc các “bên liên kết” phụ thuộc vào các nhà xuất bản (đơn vị kinh tế nhà nước) giờ đây đã xoay sang chiều ngược lại! 

Ngay các tác giả, dịch giả bây giờ cũng thường chỉ làm việc với các công ty, các nhà sách, ít làm việc trực tiếp với nhà xuất bản, hoặc nếu có lui tới nhà xuất bản thì cũng chỉ là giao đãi, không phải là những giao dịch căn bản với những quyết định về in ấn tác phẩm! Sinh thời những năm đầu 2000, nhà văn Tô Hoài đã bảo: Tác giả phải làm việc với chủ nhất thôi! Nhà xuất bản bây giờ là chủ nhì rồi! Quả là như vậy.

Hiện tượng các nhà xuất bản thờ ơ với hội sách Hà Nội 2014 – như nói ở đầu bài này – thật ra chỉ cho thấy một thực trạng đã hình thành từ hàng chục năm nay: các nhà xuất bản, với tư cách các doanh nghiệp nhà nước, đã từ một vị thế được thiết kế ưu đãi (độc quyền được cấp giấy phép xuất bản phẩm) nhưng thật ra là một ưu thế ảo và nhất thời, – chính ưu thế ảo ấy đã khiến các đơn vị kinh doanh này xa rời dần dần các khâu sản xuất (làm ra nội dung sách, bỏ vốn in sách) và bán sản phẩm (phát hành sách),  bị mất dần rồi đến mất trắng thị phần, trở nên yếu kém cả ở những mặt mạnh nhất khi xưa là làm ra nội dung sách, từ đó tụt hậu thành một nhân tố phụ của quá trình sản xuất và kinh doanh sách.

So với các doanh nghiệp nhà nước bị thua lỗ, số tiền mà các nhà xuất bản bị mất có thể không lớn, nhưng cái mất mát lớn khó lấy lại chính là tiềm năng lớn của hệ thống xuất bản cách nay hai chục năm. Tiềm năng ấy đã mất đi vĩnh viễn, khi số đông các nhà xuất bản từ ấy đến nay đã trở thành những đơn vị nhỏ bé, còi cọc, có vẻ cần thiết mà thật ra đã trở nên bất lực trong đời sống xuất bản hiện tại.

Có lẽ đã muộn nhưng các giới chức quản lý xuất bản vẫn còn thời gian để nghĩ tới việc tái cơ cấu ngành xuất bản.

Thiết nghĩ, việc tái cơ cấu ngành xuất bản nên vận hành theo hai nguyên tắc căn bản.

Một là, nếu vẫn cần duy trì chế độ cấp giấy phép (của cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản) cho mọi xuất bản phẩm, thì hãy thu quyền cấp phép ấy về một đầu mối là cục xuất bản và một số sở văn hóa-thông tin những tỉnh thành lớn. Ai, cá nhân hay tổ chức, muốn in ấn sách và xuất bản phẩm, đều phải trực tiếp lấy giấy phép từ cục xuất bản hoặc một số sở chuyên ngành những tỉnh thành lớn. Bằng cách này, các nhà xuất bản hay các nhà sách, các công ty văn hóa-truyền thông cũng như mọi công dân có nhu cầu in sách, đều phải được cấp phép bởi cơ quan nhà nước quản lý về xuất bản. Do vậy, cần chấm dứt việc các nhà xuất bản được “bán giấy phép”, tức là đứng tên xin những giấy phép cho những đầu sách nhất định mà sau đó lại không trực tiếp tổ chức in và phát hành những sách và ấn phẩm đó. Không nên luyến tiếc cái vai trò trung gian mà trên thực tế đã thúc đẩy sự suy thoái của hệ thống các nhà xuất bản vài chục năm qua.

Hai là, các nhà xuất bản, giống như mọi pháp nhân trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, cần được đặt trong sự biến động của thị trường, tức là nếu nó hoạt động có hiệu quả thì nó tiếp tục tồn tại, phát triển, còn nếu nó hoạt động không hiệu quả, bị thua lỗ hoặc làm phát sinh tiêu cực thì có thể cho tuyên bố phá sản. Không nên vì những ý đồ cơ cấu nào đó mà duy trì những nhà xuất bản quá yếu kém, hoạt động ít hoặc không hiệu quả. Một đời sống xuất bản bình thường phải bao hàm tình trạng có những nhà sách, nhà xuất bản, công ty văn hóa truyền thông… ăn nên làm ra, sản phẩm được thị trường và người tiêu dùng đón đợi, đồng thời cũng có những nhà xuất bản, nhà sách, công ty sách hoạt động kém hiệu quả, phải đóng cửa hoặc bị giải thể. Sẽ không có thảm họa nào cả nếu một nhà xuất bản yếu kém nào đó bỗng mất hút trên thị trường sách.  

 

Hà Nội, 29/09/2014