BA BỨC THƯ THƯỢNG KHẨN

TA LẠI GỬI CHO TA

BỨC THƯ THỨ NHẤT

 

Tôi thấy cái bổn phận cấp tốc phải gửi cho anh bức thư này là bởi vì tôi hiểu biết anh hơn ai hết. Anh hiện đương đứng ở trước hai cái cửa: cửa sống và cửa chết. Khỏi phải nói, anh cũng biết ngay rằng cửa sống rộng thênh thang nhưng đưa người ta đến sự hư mất đời đời; còn cửa chết thì dẫn ta đến sự sống, nhưng lại hẹp hòi, chật chội.

Anh sẽ vào cửa nào? Tôi biết chắc là anh sẽ rẽ sang tay phải.

Bởi vì anh là người Việt Nam. Cái lịch sử, cái văn hoá của nước chúng ta không cho phép ta được nghĩ đến những điều ty tiện. Ông cha ta đã đem xương máu ra mở một con đường sống cho chúng ta thì chúng ta không được phép quên mất linh hồn vô giá, quên mất sự giữ gìn nền độc lập hoàn toàn, quên mất bổn phận bảo vệ hương hoả của ông cha để lại.

Chúng ta không thể đi vào cửa rộng để mà tìm cái chết.

*

Giờ phút này đây, anh đã thấy việc bảo vệ hương hoả của ông cha ta cấp bách thế nào chưa? Cái nạn ngoại xâm chưa hết hăm doạ người ta, thì việc nội trị lại như hét vào tai ta kêu đòi thêm cố gắng. Anh phải sống để mà đền nợ nước. Nếu anh biết nghĩ, anh sẽ thấy rằng ví anh cố sống đến mười kiếp nữa thì cái nợ nước đó đền cũng chưa phu: anh bỏ cả vợ, cả con, cả nhà, cả cửa để tranh đấu cho nền độc lập cũng vẫn là chưa xứng đáng. Vậy mà anh đã làm những gì trong giờ phút nghiêm trọng này? Anh ngồi đấy để mà xem những người khác chiến đấu cho anh; anh giương đôi mắt hèn hạ nhìn thời cuộc và mong rằng sự may mắn sẽ tự nhiên rơi xuống như sung để cho anh sống “tiếp theo và hết” cái đời ỷ lại như con lợn. Hôm nay, vô tuyến điện có một chính khách kia tuyên bố sẽ ủng hộ nền độc lập của nước nhà, anh sung sướng đi kháo cho khắp thảy mọi người được biết, tuồng như chính sự độc lập đó đã do chính anh “phát minh” ra; nhưng ngày mai, nếu tướng Đờ Gôn có phét lác kêu rêu tàu Richelieu đã quay mũi đi Đông Dương, − à, xin anh yên chí cho rằng tôi đã biết trước là thể nào anh cũng phờ phạc, chán đời, lo sợ như chó chết.

Thế thì còn ai biết anh là cái quái gì, hở anh ơi?!

Nước nhà đương qua một cái nạn lửa cháy này. Chắc chắn là chúng ta phải nhìn thấy những sự sụp đổ của nền văn minh cũ. Theo luật tiến hoá của thời gian, những lâu đài dinh quách mới sẽ do sự sụp đổ đó nẩy nở ra. Một tương lai tốt đẹp hơn không cho phép một người nào bi quan cả. Vậy thì được bắt tay vào một công cuộc kiến thiết vĩ đại như thế, tôi tưởng anh phải lấy làm vẻ vang tự phụ, anh phải tranh đấu lấy một phần công việc của mình, anh phải lấy làm sỉ nhục nếu không được góp sức trong cái bãi chiến trường cần lao đó; thế mà anh lại dửng dưng là nghĩa làm sao? Tôi không hiểu. Ông cha ta ưa văn học cử tử và yêu thích sự nhàn nhã, sự trầm lặng, sự lặng im. Anh phải chủ trương sự tiến hoá, anh phải luyện lấy óc khoa học, anh phải tỏ ra là tên lính hăng hái nhất trong đoàn quân chiến đấu với một sự đau khổ của nhân loại do sự dật lạc gây ra. Anh phải tình nguyện làm một thanh niên đắc lực để làm trẻ lại cái quan niệm giao kèo hoài nghi, phải chống lại sự bất bình đẳng làm cho nhân loại lầm than khổ sở, phải xông ra trước nhất với toàn thể quốc dân tranh lấy quyền tự do dân chủ: tự do đi lại, tự do hội họp, phổ thông đầu phiếu… Còn bao nhiêu việc anh phải cùng với quốc dân phải đòi, còn bao nhiêu sự phản tuyên truyền của một số ít Việt gian mà anh có bổn phận, trong phạm vi của anh, hét lên mà chống lại, hầu có thống nhất quốc gia dân tộc!

Tiến lên! Phải tiến lên xung phong mà hiệp cùng dân chúng để giết kỳ hết bọn sài lang cướp nước, để giải phóng cho giống nòi, để tranh đấu cho tinh thần anh dũng, thích nguy khinh chết.

*

Tất cả những kết quả tốt đẹp của nền tân dân chủ anh đều ham muốn cả, bởi vì anh là người. Đã là người thì ai cũng muốn bình đẳng cả, ai cũng phải tranh giành lấy một chỗ đứng trong nhân loại. Nhưng anh lại không muốn bắt tay vào tranh đấu, anh ỳ cái thân cụ ra không muốn tranh đòi gì hết; anh chỉ rình người ta làm cỗ sẵn cho anh. Cái óc đó là óc ti tiện, óc khốn nạn, óc bẩn thỉu, óc dê óc chó. Thảm hại, anh làm cho Nguyễn Huệ, Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Trần Hưng Đạo đã chết rồi mà còn phải khóc vì đã có những con cháu ươn hèn như anh đó!

Anh trả lời tôi thế nào?

À, anh tưởng là anh treo một cái cờ ra cửa, anh đi dự vào những cuộc biểu tình, hô lên mấy câu “ủng hộ” rõ to, anh học được mấy bài Diệt phát xít, Tiến quân ca để hát vang lên không suy nghĩ, thế là anh đã làm bổn phận một công dân cứu quốc rồi ư?

Chưa đủ. Chưa đủ. Chưa đủ.

Mà tôi lại còn nói rằng như thế chưa là cái nghĩa lý gì. Như thế, chưa phải là tranh đấu, chưa phải là đoàn kết. Đoàn kết và tranh đấu, anh cần phải tranh đấu và đoàn kết cả khi không biểu tình, cả khi không hát, cả khi không vẫy cờ. Anh phải coi sự đoàn kết như một tôn giáo, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến đoàn kết mà thôi, nghĩ đến đoàn kết khi ăn, nghĩ đến đoàn kết khi ngủ, nghĩ đến đoàn kết khi làm việc. Đoàn kết lúc thắng cũng như lúc bại, đoàn kết lúc vui cũng như lúc buồn, đoàn kết lúc dễ cũng như lúc khó.

Đoàn kết để cho thành một khối bền chặt như uy-ra-ni-om làm cho bọn sài lang không chia rẽ được, đoàn kết để một là chết hết cả, hai là hoàn toàn độc lập, đoàn kết để thương xót lấy nhau, nâng đỡ lấy nhau, bởi vì hỡi hỡi anh ơi, nếu chúng ta không thương xót nhau, nâng đỡ nhau thì chả có ai nâng đỡ, thương xót ta hết.

“Hãy tự cứu lấy”. Lời của đức giáo tổ còn ghi ở trong óc mọi người. Mà xin anh nhớ cho rằng ở đời này không có gì không phải mua bằng sự nỗ lực đấu tranh. Hạt lúa không chết thì cây lúa không mọc được. Đức chúa Giê-su không chết để làm trọn thánh ý của đức chúa Cha, không thể cứu chúng ta khỏi tội. Mà tổ tiên ta không dội máu đào, phơi xương trắng, thì đâu có chúng ta bây giờ?

*

Vậy thì tranh đấu, cũng như đoàn kết, anh cũng phải coi như một tôn giáo nữa: “Không đổ máu không thể có sự tha thứ” (Hê-bơ-rơ 9.22) thì không tranh đấu không thể có một tương lai được. Người trước anh và người đương thời với anh, kẻ thì đã chết vì hi sinh, kẻ thì bỏ hạnh phúc quyết nằm gai nếm mật không ngoài cái ý muốn cướp lại nền độc lập cho đất nước. Đất nước mà được như ngày nay là do sự tranh đấu, sự hi sinh tột bậc của họ. Anh đã tranh đấu chưa? Anh đã hi sinh một ít công lao, một ít của cải, một ít hạnh phúc chưa? Hay là trong khi đồng bào anh nặng một lòng thương nước thương nòi thì anh ăn cho trệ rồi đi tán láo chuyện đời, anh chỉ ròng nghĩ đến phong y túc thực và anh lim dim con mắt nằm như một con bò trên cái sập gụ để chán đời và triền miên suy nghĩ về dĩ vãng.

Giết chết ngay cái cuộc đời ấy đi cho ta, bởi vì còn kịp lúc!

Sự tranh đấu, anh phải hoà vào với không khí để anh hít thở, anh phải coi như là một cuộc chạy thi, ai hơn thì vẻ vang, ai thua thì phải luôn luôn tâm niệm: “Ta phải làm hơn mọi người”.

Anh ơi, sự chiến đấu trong năm sáu năm nay của quốc dân ta đã gian nan vất vả lắm nhưng anh nên biết rằng cái kết quả hãy còn ít oi quá lắm. Ngừng lại thì nguy ngay. Phấn khởi lên! Hăng hái lên! Nghiến răng lại mà tiến lên! Cuộc tranh đấu còn dài, và tôi xin nói ngay rằng, − bởi vì tôi biết anh không sợ sự thử thách − rằng giờ phút này đây, sự tranh đấu gian nan không kém và có khi còn khó khăn hơn.

Vậy, khá khá đứng lên ngay, chuẩn bị lại tinh thần tranh đấu để vượt qua những sự khó khăn sắp gặp đi! Thế hệ này là thế hệ can đảm. Quân Đức vào được đến Moscou mà lại bị thua là bởi vì dân Nga biết tranh đấu đến người cuối cùng, đến phút cuối cùng. Anh cũng sẽ tranh đấu như người dân Nga đó, tranh đấu đến chết thì thôi, và anh sẽ thấy rằng tranh đấu mãi và đoàn kết đến chết không bao giờ thua được. Nước Pháp chết vì những nhân tài của nước đó đã không biết tranh đấu và đoàn kết. Nhất định quân Pháp xâm lăng sẽ bị chúng ta giết chết hết ở đây, nhất định tất cả các quân xâm lăng sẽ bị chúng ta giết chết hết ở đây!

*

Chúng ta hiện đang sống trong một cuộc đời cực khó. Trong lịch sử của loài người, − mà ở nước ta thì ngay mới ngày hôm qua đây chứ đã xa đâu? − thường có những ngọn trào trôi xiết, mang phăng phăng những người bơi lội yếu đuối nhất đến cái đích vinh quang. Anh với các bạn anh không thế: các anh bắt buộc phải bơi ngược dòng. Vất vả lắm gian lao lắm. Nhưng nếu thật anh là người xứng đáng với cái danh hiệu “người” thực, nếu anh là người của thế kỷ thể thao hai mươi này thực, anh phải nhận là anh lấy thế làm sướng lắm, sướng bởi vì gặp gian lao, vất vả và nguy hiểm mà sự thành công nguy hiểm gian lao vất vả chỉ làm cho người ta có giá trị hơn.

Bao nhiêu đức tốt nết hay mà hiện giờ ta cần phải có, chính đã cứu sống cha ông ta. Luật tạo hoá không bao giờ thay đổi. Chưa bơi thì ta tưởng như không bao giờ có thể tới được bờ, nhưng đã quăng mình xuống nước rồi thì lại thích bơi mà tưởng tượng như bơi mãi không bao giờ mệt. Nhưng điều cần nhất, ta phải tập bơi trước đã. Nghĩa là ta phải muốn, phải cương quyết muốn. Cương quyết muốn tức là chuẩn bị tinh thần đó, và cái bí mật của sự chuẩn bị tinh thần đó chính là sự tin tưởng đó, hỡi anh! Ở đời này chưa có ai từng làm xong được một việc gì mà ngay lúc đầu lại không tin rằng mình có thể làm xong được. Một nhà tiểu thuyết cầm bút viết một cuốn sách đầu tiên thường tưởng tượng không bao giờ kết liễu. Thế mà rồi sách cũng xong đấy; đến quyển thứ năm, đến quyển thứ sáu, người ta thấy rằng rất có thể viết quyển thứ mười một, thứ mười hai và người đó viết cuốn mười lăm, mười sáu nhẹ nhàng lắm, thư thái lắm. Cái điều đã đúng với những cuốn sách, đúng cả với bất cứ công việc gì ở đời này: muốn sống thì phải sống, muốn độc lập thì phải độc lập, cả nước muốn giết chết bọn sài lang cướp nước thì bọn sài lang cướp nước phải chết, không thể nào sống được ở trên giải non sông này.

Muốn! Đó là tất cả cái chìa khoá của sự sống. Anh ơi, hãy tin tưởng ở nòi giống, ở tinh thần, ở sự thắng lợi cuối cùng. Nghiến răng lại mà cùng gắng sức, mà kiên quyết tiến lên, mà can đảm đi cho kỳ được đến thành công. Lịch sử thế giới từ trước đến nay chưa hề chép chuyện một nước nào trọng đạo lý và hoà bình mà lại có thể bị một nước khác làm cho tiêu diệt được! Trái lại, qua những sự thử thách, nước đó chỉ có thể lớn hơn và mạnh hơn, bởi vì, được khổ, được gian lao, và lại được thoát khỏi sự gian lao, à, xin anh biết cho rằng không có một phúc phận nào vĩ đại hơn, rực rỡ hơn và đáng kính hơn thế vậy.

VŨ BẰNG

Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 261 (9/9/1945)