HÀ NỘI CÓ GÌ LẠ?

 

Ông Tổng trưởng Nội các Trần Trọng Kim tiếp đại biểu các nhà báo tại phủ Khâm sai

“Công việc thì nhiều, nhưng không thể nhất thiết làm xong ngay một lúc. Ta hãy biết rằng: chủ quyền lĩnh thổ ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng hoàn toàn phục hồi về Việt Nam Đế quốc,[1] từ ngày 20 tháng bảy, dương lịch hồi 12 giờ trưa (giờ mùa nực hiện hành trong nước)” (Lời ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim tuyên bố với đại biểu các báo ở phủ Khâm sai, chiếu thứ năm 19/7/45).

Năm giờ hai mươi phút thì ngài ở trên phòng làm việc phủ Khâm sai bước xuống phòng khách. Ở đây, mười bốn nhà báo Hà Nội đã ngồi đợi. Cửa sổ đều đóng vì trời còn nắng. Phòng lặng tờ tờ. Một ánh sáng mờ mờ. Ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim lặng lẽ bước vào, chân dận đôi giầy vải trắng. Không khí gian phòng và những đồ trần thiết đơn giản thật hợp với ông Tổng trưởng vừa bước vào, bình dị như một bức tranh vẽ chì. Ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim cúi đầu chào mọi người và chọn một cái ghế bên phải ngồi, không có một tiếng động con. Ông xoa tay, cười và nói mấy câu cảm tạ. Giọng nói tự nhiên như cử chỉ. Quần áo mặc, toàn là đồ trắng hạng thường, y như hồi hãy còn làm Thanh tra các trường sơ học Hà Nội. Ông vẫn giữ cái vẻ bình tĩnh thanh thản, nhưng so với lúc trước thì cử chỉ có vẻ dễ dàng và nhanh nhẹn hơn nhiều. Người có sút đi đôi chút, nhưng da dẻ hồng hào, trông có bộ mạnh hơn. Ông nói nhỏ nhưng dễ dãi; ông chọn chữ chọn câu nhưng thao thao bất tuyệt. Ta có cảm tưởng ngồi nghe một ông bạn già kể chuyện tâm sự một cách thành thực. Nói như nói chơi mà làm cảm động lòng người lắm.

− Tôi ra Bắc chuyến này là để điều đình với các nhà đương chức Nhật mấy việc. Trong những việc đó, có một việc đã có kết quả hay: người Nhật bằng lòng giao trả nước ta ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng. Mai, thứ sáu 20 tháng bảy năm 1945, hồi 12 giờ trưa sẽ cử lễ phục hồi ba tỉnh đó về đế quốc Việt Nam. Chả nói thì ai cũng đã biết, Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng từ 57 năm nay bị cắt nhượng cho nước Pháp; nay nước Nhật giao trả cho ta, ba thành phố kể trên sẽ cứ giữ địa vị nguyên như cũ. Quyền quản trị trong mỗi thành phố sẽ giao cho một ông Thị trưởng do Chánh phủ Việt Nam cử ra. Hà Nội thì là ông Trần Văn Lai, Hải Phòng ông Vũ Trọng Khánh, và Đà Nẵng là ông Nguyễn Khoa Phong.

Đó là một trong những công việc mà tôi có trách nhiệm ra đây điều đình vậy. Tôi còn điều đình nhiều việc khác nữa, và hầu hết được các nhà đương cục Nhật, vốn có trí óc sáng suốt, đã vui lòng để ý xem xét rồi… Tôi mong rằng chúng ta sẽ được toại nguyện; nhưng bao nhiêu công việc đó không phải chỉ trong một ít ngày mà giải quyết hết cả đâu. Ta phải đợi chờ và cần làm việc cho thứ tự, chứ bây giờ quốc dân muốn cái gì cũng phải giải quyết ngay thì không thể làm được. Bởi vì tình cảnh hiện đại nước ta thật có như một mối tơ vò: phải kiên tâm ngồi gỡ từng nút, nếu nóng ruột thì chỉ thêm rối nát.

Nói cho thực, ai là người Việt Nam lúc này mà lại chả sốt sắng muốn cho nước nhà mạnh ngay, giàu ngay, tự lập ngay? Nhưng cái thế chưa làm được ngay thì làm thế nào được? Tôi tin rằng nước Việt Nam ta sẽ có một tương lai tốt đẹp, nhưng công việc đó phải làm từ từ và tôi xin thề với thanh thiên bạch nhật rằng cái sức tôi có thể làm thế nào được cho nước thì tôi đem ra làm cả. Nếu có người nào xét rằng có thể làm được hơn thế để đưa nước Việt Nam đến chỗ tốt đẹp mau hơn, thì tôi rất sẵn lòng giao trả lại để mà đi về nhà, dưỡng cái tuổi già đa bệnh và đọc sách. Chính thực ra, lúc về đây, tôi không ngờ lại còn được mạnh khoẻ như thế này. Đau lắm. Tôi bị bệnh cương mạch máu, lắm khi phải nằm mà làm việc. Nhưng may ít lâu nay được ở bên cạnh hai bác sĩ Hồ Tá Khanh và Vũ Ngọc Anh nên sức khoẻ đã khá và tôi lấy thế làm mừng lằm. Công việc thì nhiều, nếu không có sức khoẻ không làm gì được cả. Tôi sẽ ở đây ít bữa rồi trở về Thuận Hoá để rồi lại đi ngay, có lẽ đi Nam Bộ, bởi vì ở đó tôi cũng có nhiều công chuyện cần làm gấp.

Ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim còn nói nhiều chuyện về ngoại giao, về tiếp tế, cho chúng ta biết một ít chuyện về tài làm việc và đức trầm tĩnh của vua Bảo Đại; đoạn, mời anh em uống nước chè, những chén nước chè nguội nhưng làm mát lòng người không biết bao nhiêu, và hồn nhiên lấy ra một cái bật lửa hạng năm xu ngày xưa, cái hạng bật lửa có bùi nhùi đỏ, bật lên đưa cho mọi người châm thuốc hút, một thứ thuốc hạng thường.

Trong hơn một tiếng đồng hồ hầu chuyện, người ta có cảm tưởng ông Trần Trọng Kim thành thực về tất cả mọi phương diện và quả là một người xứng đáng để cho quốc dân tin tưởng và hy vọng.

Sáu giờ bốn mươi nhăm phút thì bắt tay từ giã. Đại biểu các báo ra về với những cảm tưởng tốt trong lòng. Tôi lui ra sau cùng, sau khi đã hỏi ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim về công việc trước tác của ông hồi trước khi làm Tổng trưởng.

Ông Trần Trọng Kim lấy tay vuốt mái tóc điểm bạc, gật đầu, trả lời tôi:

− Có. Ngoài một cuốn sách khảo về thiên văn, tôi có soạn một cuốn Việt Nam sử lược mới, hoàn toàn hơn và có phần nói rõ ràng hơn về hồi Pháp thuộc, nhưng hiện nay, vẫn chưa xong. Tôi không biết bản thảo hiện để ở đâu; tôi đương bảo cháu ở nhà tìm kiếm; nhưng chắc lúc này, bận rộn thế, tôi cũng chưa thể tiếp tục mà làm cho xong ngay được. Âu cũng là một điều đáng tiếc.

 

Lễ phục hồi thành phố Hà Nội.

Ông Trần Văn Lai nhận chức Thị trưởng

Theo chương trình thì mười hai giờ đúng làm lễ phục hồi thành phố Hà Nội, cùng một giờ với Hải Phòng và Đà Nẵng. Nhưng mười hai giờ kém mười lăm, báo động. Mãi tới gần một giờ trưa, cuộc lễ mới bắt đầu. Đúng ra thì thành phố đã dự bị một cuộc đón tiếp ông Thị trưởng Trần Văn Lai rất xứng đáng, nhưng vì ông yêu cầu đừng làm gì, nên mọi công việc đón rước đều hoãn lại.

Cuộc đón rước vì thế rất giản dị, nhưng do đó lại hàm nhiều ý nghĩa tốt đẹp hơn. Về phần quan chức Nhật ta nhận thấy ông phó Toàn quyền, ông trưởng bộ tham mưu, cả ông tối cao cố vấn Yokoyama và Nishimura, ông quyền đốc lý Konagaya và các võ quan đại diện lục quân, hiến binh… Về phần các quan chức Việt Nam có ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim, ông Vũ Ngọc Anh, ông Phan Anh, ông Hoàng Xuân Hãn, ông Phan Kế Toại và các ông giám đốc các công sở, các ông chủ sự, các công chức. Giờ hành lễ, các quan chức Nhật và Việt đứng yên trên hành lang toà Đốc lý hướng về phía vườn hoa Pôn Be làm lễ chào cờ. Phường nhạc Bảo an binh cử bài “Đăng đàn”. Thanh niên hát. Và cuộc lễ cử hành ở trong phòng giấy ông thị trưởng, trang hoàng rất giản dị nhưng sạch sẽ và sáng sủa, dưới bốn chân tường có đặt những chậu cây lá xanh làm dịu mắt vô cùng. Ánh đèn dìu dịu. Ở ngoài kia không khí rung động một cách hiền hoà. Hàng trăm người đứng trên bãi cỏ trước Kho Bạc chờ xem.

Lúc phường nhạc Bảo an binh nghỉ, tức là lúc bắt đầu cuộc lễ. Giữa là một cái bàn giấy. Quan chức Nhật đứng một bên. Quan chức Nam đứng một bên. Ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim tiến lại phía bàn, nhanh nhẹn nhưng vẫn không thiếu vẻ ung dung, lấy bản chiếu nói về việc thống nhất lãnh thổ Việt Nam tuyên đọc. Từ giờ này, ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng sẽ hoàn toàn phục hồi về Đế quốc Việt Nam. Mỗi thành phố sẽ có một ông thị trưởng Việt Nam. Hà Nội, Hải Phòng sẽ thuộc quyền Bắc Bộ Khâm sai đại thần, còn ở Đà Nẵng sẽ thuộc quyền Nội vụ Bộ trưởng đại thần.

Ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim cảm ơn Hoàng quân Đại Nhật Bản đã giải phóng cho nước ta và các nhà đương chức Nhật Bản đã tạm đảm nhận các công việc cai trị Hà Nội cho dân cư Hà Nội vẫn được an cư lạc nghiệp như thường. Nay việc thống nhất lĩnh thổ đã thực hiện gần xong, bổn phận của dân nước là phải lo đến việc duy nhất dân tâm, cùng với khẩu hiệu “quốc gia thống nhất” còn phải hô khẩu hiệu “quốc dân hợp nhất”. Ông Bùi Như Uyên dịch hai bản diễn văn ra tiếng Nhật xong thì ông thị trưởng mới Trần Văn Lai ra nói mấy lời cảm ơn quân đội Nhật dầu khó khăn thế nào cũng giữ lời hứa giúp và ủng hộ nền độc lập các nước ở khu đại Á Đông, và cuối cùng, ông mong rằng dân chúng Hà Nội sẽ không chia đảng phái, đồng tâm hiệp lực làm cho Hà Nội to, đẹp, mạnh, giàu như kinh đô các đại cường quốc.

Ông nguyên quyền thị trưởng Konagaya đáp lại mấy lời nhã nhặn và ước rằng nhờ sự gắng sức, sự tận tâm và những đức tính tốt của ông thị trưởng mới, một người bạn mà ông vẫn có bụng yêu, việc cai trị kinh đô Bắc Bộ Việt Nam sẽ có kết quả tốt đẹp hơn và nền thịnh vượng của thành phố cùng sự sinh hoạt của dân chúng mỗi ngày một tăng tiến hơn.

Sau hết, ông Trần Văn Lai mời các người Nam có mặt tại lúc đó xuống đền Trung Liệt truy niệm hai vị anh hùng Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương, khi xưa cố giữ thành phố Hà Nội đến lúc cuối cùng không được, đã đành tuẫn tiết theo thành, lưu lại một trang oanh liệt trong Việt sử.

 

Lễ truy niệm hai vị trung liệt Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương

Còn nhắc lại các đoạn lịch sử ai oán đó làm gì nữa?

Nói cho đúng ra cái lòng địch khái của quốc dân ta, lúc người Pháp mới sang xâm chiếm ở đây, cũng hăng hái lắm; nếu những người có quyền vị có thanh thế biết đứng ra cổ lệ kích dương lòng ái quốc thì người Pháp cũng còn lâu mới lấy được thành Hà Nội.

Tiếc thay những người đó lại sẵn lòng bán nước, táng tâm không còn chịu biết tiết nghĩa là gì: nào Lê Trinh làm đề đốc bỏ binh quyền chạy trốn; nào Thông Phong làm chim mồi cho Tây; nào Tôn Thất Bá leo tường chạy trốn; nào Bố chánh Phan Văn Tuyển co giò lên tai, chạy về làng Mọc Quan Nhân; nào lãnh binh Hồ Như Lễ, Nguyễn Đình Dương ném gươm quăng giáp để lạy Tây cầu sống… Hỡi ôi, cái tinh thần nòi giống của người mình còn gì nữa nếu trong đó lại không xuất hiện ra những liệt sĩ anh hùng như Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương, thà can tâm chịu chết với thành chứ không chịu ôm đầu chạy trốn.

Cái chết oanh liệt của hai vị anh hùng đó, ngàn vạn năm sau vẫn còn chói lọi ở trong Việt sử, và có quyền hưởng sự thành kính cho hai mươi nhăm triệu đồng bào hàng năm vẫn đến chiêm bái ở Thái Hà Ấp, đền Trung Liệt. Đền Trung Liệt, lúc mới lập, lấy tên là đền Tam Trung, vì đền thờ ba vị anh hùng Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu và Đoàn Thọ, cả ba đều bỏ mình vì nạn nước, trong khi giặc Pháp đến xâm lăng. Trung tức là một lòng ngay thẳng; Liệt là “sức lửa nóng dư, không ai dám phạm”, lại có nghĩa “người có tâm chí cương quyết, không chịu khuất phục một thế lực hay một sức mạnh nào”.

Xem vậy, hai chữ trung liệt dùng để gọi tên đền thờ Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu và Đoàn Thọ thực là xứng đáng; vậy mà trước đây ít năm, có kẻ lại dám lấy cớ trùng tu, đem đổi Trung Liệt ra làm “Trung Lương”, lấy cái ý “lương” là tốt là hiền, không có gì đáng để ghi cái dấu thơm của ba vị anh hùng tuẫn quốc, và đem luôn bài vị của mười người khác nữa bày luôn vào đó để tính chuyện “ăn chực” phần hương khói.

Nhưng quốc dân ta đâu lại có chịu để cho người ta lừa dối như thế được? Mà anh hồn của ba vị Đoàn, Hoàng và Nguyễn, khi nào lại chịu để cho mười mấy kẻ kia được dự vào cùng một nơi cúng lễ với mình?

Báo giới quốc văn đã hết lời trách móc và lòng công phẫn của quốc dân không một lúc nào thôi bốc cháy, nhưng vì có người Pháp che chở cho lũ quyền gian nên cái Trung Lương vẫn cứ trơ trơ ra đó.

Nhưng trong có một đêm, chính quyền Pháp bị lật nhào. Những kẻ bán nước rồi sẽ có chỗ ngồi riêng của chúng, nhưng việc đầu tiên người ta thấy cần phải làm ngay là phá nát ngay hai chữ “Trung Lương” đi, đắp hai chữ “Trung Liệt” cũ vào, và soạn lại bài vị xem cái nào nên để cái nào nên huỷ, và sau cùng ban khám xét bài vị chỉ giữ lại nguyên hai cái: một của Hoàng Diệu và một của Nguyễn Tri Phương.

Lúc ông Tổng trưởng Trần Trọng Kim, ba ông bộ trưởng, ông Khâm sai, ông thị trưởng và thanh niên nam nữ Việt Nam xuống đền Trung Liệt truy niệm các bậc trung liệt, hồi ba giờ chiều thì ba chữ “Trung Liệt miếu” đã đắp xong và kẻ sơn đen rất đẹp. Cây cối xanh tươi ôm lấy quả đồi có một vị trí nên thơ. Chim nói, chim hót. Ánh nắng rực rỡ chiếu theo khe lá và lọt vào trong đền làm rực rỡ thêm những hoa lá và hương nến bày ở trên ban thờ. Những vị đại biểu của chính phủ Việt Nam kính cẩn đứng trước ban thờ làm lễ tam khấu.  Một không khí cảm động toả ra khắp đền và khắp quả đồi. Người ta muốn khóc vì sung sướng, sung sướng vì thấy tinh thần đoàn kết chặt chẽ của quốc dân Việt Nam, không những ở thế hệ này mà thôi mà lại còn với cả các thế hệ trước ta nữa và sau ta nữa. Tinh thần đoàn kết đó sẽ là bất diệt, và dù là thiên công thử thách ta đến bậc nào, ta cũng phải thấy rằng nước ta không diệt được, tinh thần ái quốc của chúng ta không tuyệt được.

Nghiến răng căm tức quân Pháp trong bảy chục năm nay và giận bọn quyền gian đã lừa dối đồng bào, hai vị anh hùng Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu từ nay hẳn được mỉm cười dưới suối vàng mà phù hộ cho nòi giống Việt Nam.

Nhưng còn ông Đoàn Thọ, một trong tam trung, không biết rõ là ban xem xét bài vị đền Trung Liệt đã khảo kỹ càng chưa, mà việc bỏ bài vị đi như thế là phải hay không phải? Tôi không được biết rõ. Chỉ xin nhắc lại để cho các vị có trách nhiệm, các sử gia, các học giả xem xét kỹ càng hơn. Bởi vì nếu từ trước đến nay đền Trung Liệt không thờ ông Đoàn Thọ thì không nói làm gì; nhưng đằng này lại đã có thờ rồi, thờ vì có công cùng với hai ông Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương cố giữ thành Hà Nội, nay nếu không xem xét cho thực kỹ, nhất thiết bỏ đi thì e rằng chẳng những đắc tội với tiền nhân mà lại còn làm tủi anh hồn một vị liệt sĩ đã hy sinh thân thế cho đất nước.

         VŨ BẰNG

Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 255 (29/7/1945).

 

 


 

[1] Lưu ý: “Việt Nam Đế quốc” là quốc hiệu mới lúc này. Một số giấy tờ cũ còn lưu lại của thời này cũng thấy dấu triện có quốc hiệu này; (có thể  tạm hiểu “đế quốc” = nước của Hoàng đế).