MẤY Ý NGHĨ VỀ TRỜI

(nhân cuộc tế Giao năm nay)

 

Mấy hôm nay, nhân có việc tế Giao ở kinh đô, trong dân chúng có nhiều nơi nổi lên một cuộc bàn luận xét cũng có nhiều thú vị. Ấy là cuộc bàn luận về ý nghĩa tế Giao. Người ta chia làm hai phái. Phái thứ nhất, hầu hết là thanh niên có óc khoa học, chủ trương rằng tế Giao là cổ tục của một thời đại chuộng hư văn và thần quyền còn sót lại, không có bổ ích cho ai cả. Hạng này là hạng tuyệt đối.

Hạng thứ hai, hạng hoài nghi, thì lại rằng: Giao của ta là theo của Tàu. Tàu là một nước huyền bí mà lại như cao siêu, ta không hiểu. Đã không hiểu được hết cả tinh thần văn hoá của Tàu thì làm thế nào hiểu được việc tế trời có bổ ích gì không? Âu là ta chỉ nên biết rằng: Tế Giao là tế trời, vua thay quyền trời, thì để việc ấy tuỳ vua, ta không thể biết mà cũng không cần biết. Chỉ biết rằng dân ta tế thần thế nào thì vua cũng tế trời như vậy.

Hai phái trên này bàn luận, xét cho kỹ thì phái nào cũng có cái phải, nhưng không phái nào tin tưởng là có Trời. Đó thực là một cái hại. Mà truy nguyên ra thì cái hại này khởi tự cái óc quá thiên về khoa học mà ra vậy. Chúng tôi không dám không nhận rằng khoa học ngày nay cầm quyền bá chủ trong doanh hoàn. Nhưng ta phải biết rằng nói đến trời là ta bước vào miếng đất tôn giáo không thể khảo sát chỉ nên nhìn nhận mà thôi. Cái khổ của nhà văn sĩ Nga Dostoievsky một phần lớn là do ở câu hỏi này: “Có trời hay không có trời?” lúc nào cũng ám ảnh người. Tolstoi, đứng nghiêng về mặt tôn giáo hơn, nhìn nhận là có trời nên tinh thần có vẻ được thư thái hơn Dostoievsky nhiều lắm. Tolstoi đứng về miếng đất tôn giáo vậy. Ta không lấy thế làm lạ bởi vì lúc trở về già bao nhiêu tác phẩm của Tolstoi thiên về luân lý và đạo giáo hơn là về nghệ thuật.

Bởi vậy, cố tìm cách xem có trời hay không là một việc không bao giờ có thể làm được mà chỉ thân làm tội đời mà thôi. Nói đến trời là nói đến tôn giáo, ta chỉ nên tin là có mà không nên ngờ gì hết. Ở đời bất luận người nào cũng cần phải tin như thế. Người đàn bà ở trong gia đình không biết sợ phật sợ trời không còn là một người đàn bà nữa, sao mà còn điều khiển được một gia đình. Nói rộng ra một nước, nếu người dân không biết sợ một cái quyền gì thì nước không thể có trật tự được. Luật pháp là do người đặt ra không hẳn đã có quyền vạn năng. Người dân cần phải biết ơn và sợ một cái quyền to hơn thế: việc thờ trời, tế trời và tin là có trời chính là do sự biết ơn và sợ phép đến cực điểm mà ra vậy.

Tại sao lại biết ơn? Người ta không phải do một cái bắp cải sinh ra nhưng là do huyết thống của cha mẹ chung đúc nên. Vậy có mình, mình phải nghĩ đến ai đã sinh ra mình, ai đã sinh ra người sinh ra mình… Cứ trở ngược lại thời gian như thế, ta sẽ thấy rằng ông thuỷ tổ ta do một vị ra đời trước hết cả tạo nên. Vị ấy có từ triệu triệu năm nay, một tay gây dựng ra thế giới, vị ấy mới thật là có quyền vạn năng vậy. Vị ấy là Trời. Mỗi nước bây giờ đều có tên riêng để gọi Ngài, nhưng nhất tề chữ nào tên nào cũng có nghĩa như nhau. Ngài sinh ra loài người, sinh ra tổ tông ta để cho tổ tông ta tạo ra ta ngày nay, ta biết ơn Trời là thế. Có thể nói rằng những người càng yêu gia đình và yêu nước bao nhiêu thì lại càng kính mến và biết ơn Trời bấy nhiêu.

Tại sao lại sợ phép? Lẽ này cũng do ở lẽ trên mà ra. Người ta kính nể ai tôn trọng ai thì tất nhiên phải sợ phép người ấy. Vả lại, cứ ngồi mà nghĩ thì người ta sống ở dưới trời trên đất này có bao nhiêu là điều huyền bí ở chung quanh. Một tia chớp, một làn sáng, dĩ chí đến cái sống cái chết, cái buồn cái vui, cái còn cái mất đều là thuộc tay trời cả thì sao mà ta không thấy nẩy ra một lòng sợ được? Sợ như thế thật là chính đáng.

Một nước mà dân chúng biết ơn và sợ Trời như thế thì nước mới có thể tồn tại được. Bởi lẽ nước tồn tại được là do ở dân mà dân biết ơn trời và sợ phép trời thì bao nhiêu tâm tính trời phú cho mới giữ được. Sách Trung dung có chép: “Biết giữ theo tâm tính trời cho, ấy tức là đạo đức”.

Lập một nước cũng như xây một nhà. Nhà cần nền móng thì nước cần đạo đức. Đức Khổng Tử khi xưa gặp Cảnh Công nước Tề, Cảnh Công hỏi: “làm thế nào mà trị nước?” Khổng Tử đáp: “Trong nước lúa gạo là cần mà thực không cần lắm. Đạo đức cần hơn vì nếu trong nước vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con, không còn trật tự nữa, sinh ra loạn lạc thì hỏi có ai ngồi yên mà ăn được không?”

Xem vậy, đạo đức là cần cho một nước. Cái gì gây ra đạo đức? Đó là do lòng tin trời mà người dân biết giữ theo tâm tính trời phú cho.

Nói rộng ra một nước thì lúc nước mạnh người dân cảm ơn trời, lúc nước yếu thì người dân kêu van trời; nói hẹp lại một người, thì lúc người ta sướng người ta biết ơn trời, lúc người ta khổ người ta than trời; nhất nhất, buồn vui sướng khổ, người ta đều muốn tố cáo với trời vì sợ phép trời.

Ta vẫn thường kêu lúc vui: “Nhờ giời tôi khoẻ!” hay than: “Trời ơi!” khi ta khổ để nhẹ được lòng. Nhưng xét như thế thực không đủ. Nhiều khi ta thấy cần phải trực đạt với trời nữa. Tiếc thay trời lại không thể trực tiếp với dân, bởi thế phải dùng một người làm trung gian: người ấy là vua vậy. “Trời thương muôn dân, đặt ra có vua, có thầy” là thế! Bởi vậy ở các nước quân chủ mà vua có quyền, có nhân thì dân biết ơn vua và sợ vua như trời. Lịch sử ta thường chép hàng trăm ngàn chuyện như thế: vua cởi áo ra đắp cho người nghèo, vua mở kho để bố thí cho dân. Đến tận bây giờ ở nhiều nước quân chủ như nước Nhật chẳng hạn, vua vẫn có oai quyền như thế: Thiên hoàng vẫn là đại biểu của trời để tiếp xúc với dân. Dân muốn điều gì thì truyền đạt lên vua để vua chuyển đạt lên trời. Bởi thế dân muốn là vua muốn, Trời muốn là vua muốn.

Những nước như nước Đức ngày nay, Tổng thống tức là vua. Trước khi khai chiến, tổng thống Hitler đọc diễn văn có câu kết “Xin Thượng đế phù hộ cho chúng tôi!” ta nên hiểu rằng đó là lời van Trời của tất cả dân Đức vậy. Lính Nhật lúc đánh Mã Lai lội qua sông có cá sấu mà không sợ chết, ta nên hiểu rằng họ không phải vâng theo mệnh lệnh của người nào cả nhưng là vâng theo mệnh lệnh trời, do Thiên hoàng đứng làm đại biểu ban ra.

Ý nghĩa của tế Giao là ở đó.

Vua tế trời không phải là tế cho mình đâu, nhưng là tế cho dân, chuyển đạt lời của dân lên với trời. Trước mặt trời, vua tức là dân đó. Trời theo ý của dân mà quyết định.

Vì lẽ đó Tây ngạn có câu: “Vox populi, Vox Dei” − Dân thanh tức là thiên ý.

Xem vậy thì biết cái quyền của dân vô cùng, vua mà thương dân là theo đúng lẽ trời, còn bỏ mặc dân tức là đã phụ cái quyền trời đã trao cho vậy. Trên kia ta đã nói bất cứ người nào cũng phải sợ trời. Ta nên nói rõ thêm: hơn hết cả mọi người, vua lại càng phải sợ trời lắm lắm. Không sợ trời mà biết thương dân và được dân yêu, xét trong lịch sử mấy ngàn năm, ta chưa thấy một vị vua nào như thế.

VŨ BẰNG

                                        Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 104 (29/3/1942)