NHỮNG TRẬN ĐẠI HỒNG THUỶ

  TRONG THƠ OVIDE, TRONG KINH THÁNH

   VÀ TRONG THỜI KỲ NGHI SỬ VIỆT NAM

 

Phàm nước nào cũng vậy, ở trên mặt địa cầu, mỗi khi gặp việc gì phi thường một chút, cũng đều hay tạo ra những chuyện truyền kỳ để gán vào việc ấy cho có vẻ u huyền dễ sợ. Bởi vậy cho nên thường làm một số báo đặc biệt nào chúng tôi không bao giờ quên nói đến chuyện ấy trước tiên. Ví dụ như số “Lửa”, chúng tôi phải lượm lặt ngay những chuyện truyền kỳ về lửa; nói về “Bão”, chúng tôi phải tìm ngay những chuyện truyền kỳ về bão. Vì chúng tôi nghĩ rằng muốn hiểu rõ về các việc phi thường ấy, theo khoa học ngày nay ra thế nào, thì trước hết ta phải biết cổ nhân nghĩ về những việc đó ra sao đã. Từ xưa, người Tàu và người ta cho rằng ở đời có bốn cái tai nạn đáng cho ta kinh sợ nhất là: thuỷ, hoả, đạo, tặc. Trong bốn cái hoạ ấy, thuỷ đứng vào hàng đầu. Cho mới biết lửa và trộm cướp giặc giã dù ghê gớm đến đâu mà đem so với nước cũng còn là hàng kém. Bởi vậy, dù nước văn minh hay dã man, trên hoàn cầu này, phàm nói đến thuỷ thì ta cũng có rất nhiều chuyện truyền kỳ; những chuyện truyền kỳ đó mỗi nơi mỗi khác không có chỗ nào giống nhau. Cũng như làm những số khác, chúng tôi cũng xin nói về những chuyện truyền kỳ về thuỷ lạo trước khi nói đến những nạn đại hồng thuỷ từ lúc thế giới bắt đầu văn minh đến giờ.

 

Đại hồng thuỷ theo Ovide

Cứ theo sách Métamorphoses (Tàu dịch là Mỹ-tháp-ma-phúc-tây-tư) của văn hào Ovide (Ao Duy Đắc) thì trong ba thời đại ở tiền sử chỉ có Hoàng kim thời đại là loài người sung sướng. Người ta thương yêu nhau, đất không cần phải cày sới, đồ ăn là hoa quả mọc ở cánh đồng hay trên đỉnh núi. Nước sông thơm như hoa, bể là bể sữa, vỏ cây thơm ngọt và cho người đời mật ong. Đến khi thần Jupiter (Chu-bỉ-thắc) vật thần Saturne (Tát-thắc-ân) xuống dưới âm ti mà chiếm lấy quyền bá chủ địa cầu thì bắt đầu Bạch ngân thời đại. Thời đại này kém hẳn thời đại trước: mùa xuân ngắn hẳn đi; năm chia làm bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Vào thời này, không khí bắt đầu oi bức, nước đọng lại, rét thành băng. Người ta phải làm nhà để ở và bắt đầu cày ruộng.

Đến chiến loạn thời đại (âge d’airain) thì tâm tính người đời thay đổi hẳn; người ta bắt đầu dùng khí giới và chém giết nhau; sự thật, lòng tin và những tấm tình trong sạch nhất thiết đều mất hết. Vàng và sắt bây giờ xuất hiện ở trên mặt đất. Trận mạc nổi lên tứ phía. Chồng không tin vợ, anh không tin em, khách không tin chủ. Mặt đất đầy những máu. Con trai Tác-thắc-ân thấy đời như thế lấy làm buồn phiền và tức giận, − một cơn tức giận xứng đáng với thần Chu-bỉ-thắc! Chính Chu-bỉ-thắc cũng tức giận tràn hông; ngài rũ tóc bảy lần và tất cả địa cầu đều kinh sợ. Thần Chu-bỉ-thắc nói rằng: “Một cuộc đời như thế này không thể cứ kéo dài ra mãi. Ta phải giết hết giống người độc ác này mới được. Ta phải tạo ra một giống người khác hoàn toàn hơn”. Nói đoạn, ngài định đem sấm sét để tàn phá cõi đời; nhưng sau nghĩ lại, ngài lại sợ rằng lửa bốc cao quá có khi làm hại đến cả thiên đình cũng nên. Bởi vậy thần Chu-bỉ-thắc lại phải suy nghĩ để tìm một phương pháp khác. Lúc ấy ngài mới nhớ ra rằng trong cuốn Sách số mệnh có một đoạn rằng chẳng sớm thì chầy thể nào thế giới cũng có một ngày hối kiếp: biển, đất và thiên đình sẽ bị làm mồi cho ngọn lửa. Chu-bỉ-thắc bèn nhất định tìm một cái tai nạn khác trái hẳn: loài người sẽ bị chết vùi dưới nước và sông và ngòi và ao và biển sẽ dựng nước lên để tàn phá hết. Tức thì thần Chu-bỉ-thắc bèn cho tìm hết cả thần gió lại rồi tháo xích cho thần Nous (Nặc-thác) cho phép bay lượn khắp đây thì đó. Nặc thần dữ tợn vô cùng. Mây mù bám vào má ngài; giông, bão dính vào râu ngài; nước chảy ròng ròng ở trên tóc ngài xuống; trán ngài đầy những mây mù; và nước lại chảy ở cánh tay và nách ngài ra nữa. Thần Nặc-thác lấy tay bóp những đám mây: một tiếng nổ long trời lở đất; rồi thì mua tuôn xuống như suối như không thể nào ngớt được. Đồng ruộng đều bị huỷ hoại hết, bao nhiêu hơi sức của người làm ruộng đều bị hư hao cả. Vậy mà thần Chu-bỉ-thắc vẫn chưa lấy làm mãn nguyện.

Em ngài là thần Neptune (Nội-phổ-khư-ân) lại còn đem thêm nước đến giúp ngài. Nội-phổ-khư-ân gọi các Sông lại mà rằng: “Các ngươi phải gắng sức, gắng sức nữa lên. Hãy phá huỷ các đê đi để cho sông của các ngươi được tự do chạy nhảy”. Các Sông vâng lời dặn. Còn chính thần Nội-phổ thì ngài cầm cái đinh ba gõ xuống đất. Đất rung chuyển và làm bật những sông ngòi chưa có nước chảy ra. Nước… nước… toàn là nước… Cây cối, mùa màng, súc vật, người, nhà cửa và những tượng thần tượng phật đều bị cuốn theo giòng nước. Người ta không còn thể phân biệt được đâu là đất mà đâu là bể nữa. Toàn là bể cả, bể không có bến bờ. Người nào người nấy đều tìm hết các phương chạy trốn, người thì lên núi, kẻ lại trèo thuyền. Hôm qua con dê con còn đứng gặm cỏ ở cái bãi này, hôm nay người ta đã thấy con hải cẩu dữ tợn du chơi ở đó. Nhà cửa và tỉnh thành đều trốn ở dưới làn nước bạc. Con chó sói bơi ở giữa đàn cừu; nước cuốn cả sư tử và xoáy nó đem xuống cho nằm dưới đáy bể mông mênh. Con lợn lòi có sức khoẻ vô song, bây giờ còn dùng cái sức khoẻ ấy làm được trò gì? Con hươu chạy nhanh là thế, bây giờ còn dùng gì được đến bốn chân kia? Con chim giang hồ bay ngày bay đêm để tìm một miếng đất nghỉ chân, vô ích. Nó rơi xuống bể bởi vì đã rã cánh rồi. Nước lên mãi, nước lên mãi và lần đầu tiên người ta thấy những lượn sóng hung hăng đánh nhau với đỉnh núi một cách vô cùng dữ dội. Không biết bao nhiêu là người và vật chết trôi mà kể. Những kẻ còn sống sót thì lả đi vì mệt mỏi và không có gì mà ăn. Một sự đói khát thảm thương thong thả đến chơi với họ.

Đó, câu chuyện truyền kỳ của nhà thi sĩ La Mã đã kể về nạn đại hồng thuỷ hồi trước Thiên Chúa giáng sinh.

 

Đại hồng thuỷ trong Kinh Thánh

Trong Kinh Thánh (Cựu ước) về đoạn đại hồng thuỷ, người ta lại thấy chép khác hẳn. Chúng tôi xin dịch lại như sau này:

Từ khi giống người bắt đầu sinh sản nhiều trên mặt đất và sinh ra những người con gái, thì những con trai đức Chúa Trời thấy con gái loài người xinh đẹp bèn kén chọn rồi cưới lấy những kẻ tâm đầu ý hợp. Đức Chúa Trời bèn phán rằng: Thần ta không ở mãi trong loài người, bởi vì người chỉ là xác thịt; và chỉ sống đến 120 năm là cùng. Vào thời ấy những người cao lớn đã có trên mặt đất vì những con trai đức Chúa Trời ăn ở cùng con gái loài người mà sinh con đẻ cái. Những người cao lớn đó là những người anh hùng lừng lẫy ngày xưa. Đức Giê-hô-va thấy loài người hung ác lắm và ý tưởng của họ chỉ là quy vào những sự xấu xa. Ngài lấy làm hối hận vì đã sinh ra loài người trên mặt đất và lấy làm rầu rĩ lắm. Và Ngài nói rằng: “Ta sẽ làm cho giống người mà ta đã dựng nên phải tuyệt diệt, từ loài người cho đến loài vật, loài côn trùng, cả loài chim trời nữa; bởi ta hối hận đã gây nên họ. Nhưng Noé (Tàu dịch là Nặc-ai) được ơn trước mặt đức Bất Diệt.

Này là dòng dõi của Nặc-ai.

Nặc-ai là một người ngay thẳng và thanh liêm; Nặc-ai cùng đi với đức Chúa Trời. Nặc-ai có ba người con trai. Sem (Sinh) Cham (Tạp-mẫu) và Japhet (Nhã-phạt). Thế gian bấy giờ bại hoại ở trước mắt đức Chúa Trời và đầy rẫy sự hung ác. Đức Chúa Trời nhìn mặt đất, thấy bại hoại bởi vì xương thịt của người làm cho đường minh trên đất phải bại hoại. Đức Chúa Trời bèn bảo Nặc-ai rằng: Ngày cuối cùng của xác thịt đã đưa đến trước mặt ta; bởi vì giống người đã làm cho mặt đất đầy rẫy sự tàn bạo; nầy, ta sẽ cho họ tiêu diệt cùng với đất, ngươi khá đóng một chiếc tàu bằng gỗ gopher; ngươi cắt đặt ra từng phòng; và ngươi trét trai cả bề trong lẫn bề ngoài. Này ngươi làm như vầy; bề dài tàu ba trăm thước, bề ngang năm mươi thước, bề cao 30 thước. Trên tàu, ngươi sẽ làm một cái cửa sổ cao một thước: ngươi làm một cửa sổ ở bên cạnh; và ngươi sẽ làm một từng dưới, một từng giữa và một từng trên. Rồi đây, ta sẽ dẫn nước lụt khắp trên mặt đất để diệt tất cả cái gì sống ở trên mặt đất, thảy thảy đều chết hết. Nhưng ta lập giao ước cùng ngươi: ngươi sẽ xuống tàu với các con ngươi, vợ ngươi và con dâu của ngươi. Về các loài sinh vật, ngươi sẽ đem xuống tàu từng cặp một để cho chúng sống: cái gì cũng có sống có mái, có cái có đực. Chim tuỳ theo loại, súc vật tuỳ theo loại. Mỗi giống hai con sẽ đến với ngươi để ngươi giữ cho tròn sự sống. Và ngươi khá mang đủ thức ăn đi, làm lương thực để mà ăn và cho chúng cùng ăn.

Nặc-ai làm theo đức Chúa Trời đã dặn.

Đức Giê-hô-va phán với Nặc-ai rằng: Ngươi đem cả nhà xuống tàu đi vì ở đời này ta thấy ngươi công bình trước mặt ta. Ngươi sẽ có ở cạnh ngươi bảy cặp loài vật trong sạch có đực có cái; một cặp loài vật không trong sạch, có đực có cái; và cả bảy cặp chim trời nữa, cả đực cả cái hầu giữ gìn nòi giống của chúng an toàn trên mặt đất. Bởi vì chỉ còn bảy ngày nữa ta sẽ làm mưa bốn mươi ngày và bốn mươi đêm liền trên mặt đất. Ta sẽ không cho một giống gì mà ta đã gây nên được sống sót.

Nặc-ai làm theo lời dặn của đức Giê-hô-va.

Lúc xảy ra nạn nước lụt, Nặc-ai 600 tuổi. Nặc-ai đem con và vợ và con dâu xuống tàu để tránh nạn. Cùng với các loài vật trong sạch và không trong sạch và tất cả những giống chim trên mặt đất, Nặc-ai bước xuống tàu với từng cặp một, con đực đi với con cái, đúng như lời đức Chúa Trời đã dặn Nặc-ai.

Bảy ngày sau, nước lụt tràn trề trên mặt đất. Đúng vào năm thứ sáu trăm của Nặc-ai vào ngày mười bảy, tháng hai, bao nhiêu nguồn của những vực lớn nổ ra và các đập trên trời mở rộng. Mưa ròng rã 40 ngày 40 đêm. Hôm ấy, Nặc-ai và vợ cùng ba con trai là Sinh, Tạp-mẫu và Nhã-phát cùng ba người con dâu của mình xuống tàu. Họ xuống cùng với các thú rừng tuỳ theo loại, các gia súc tuỳ theo loại, các côn trùng bò trên mặt đất tuỳ theo loại, các giống chim lớn tuỳ theo loại, các giống chim nhỏ tuỳ theo loại, hết thảy vật gì có cánh. Chúng xuống tàu cùng với Nặc-ai, từng cặp một, con nào cũng sống, một đực một cái, một trống một mái, in như lời đức Chúa Trời đã dặn Nặc-ai. Xong đâu đấy đức Giê-hô-va đóng cửa tàu lại. Nước lụt bốn mươi ngày liền trên mặt đất. Nước to mãi ra và nưng tàu lên khỏi mặt đất. Nước to mãi ra và dưng lên bội phần trên mặt đất, và bao nhiêu núi non ở dưới gầm trời đều bị ngập. Nước dâng lên mười lăm thước cao hơn núi, và núi bị ngập hết. Từ chim chóc đến gia súc, và côn trùng và người nữa, hết thảy các sinh vật trên mặt đất đều chết hết. Các vật có sinh khí trong lỗ mũi, các vật ở trên đất liền đều chết hết, chỉ có Nặc-ai và người nhà Nặc-ai sống sót mà thôi. Nước dâng lên trên mặt đất trong một trăm năm mươi ngày.

Đức Chúa Trời nhớ lại Nặc-ai cùng với các giống vật ở trong tàu. Ngài bèn khiến một ngọn gió thổi qua trên mặt đất, tức thì nước rút ngay. Các nguồn của vực lớn và các đập trên trời đều khép lại và mưa trên trời không rơi xuống nữa. Nước rút ra khỏi mặt đất và sau một trăm năm mươi ngày thì hết nước lụt. Ngày mười bảy tháng bảy tàu của Nặc-ai đỗ ở dưới chân núi A-ra-rát. Nước cứ rút dần dần cho đến tháng mười. Ngày mùng một tháng mười thì đỉnh núi ló ra.

Bốn mươi ngày sau, Nặc-ai thả một con quạ. Quạ bay đi bay lại kỳ cho mặt đất khô hết mới thôi. Ngài lại thả một con chim bồ câu để xem nước đã hết chưa. Nhưng con chim bồ câu không có chỗ đỗ chân đành quay lại trở về tàu, vì nước còn khắp cả trên mặt đất. Nặc-ai đợi bảy ngày rồi lại thả con bồ câu ra. Đến chiều con bồ câu quay về, ngậm ở mỏ một cành lá ôlivê. Tức thì Nặc-ai hiểu ngay rằng nước đã rút. Ngài đợi bảy ngày nữa lại thả con bồ câu ra; nó không trở về nữa. Ngày mùng một tháng giêng năm 601 của Nặc-ai, nước đã rút hết. Nặc-ai rỡ mui tàu ra mà nhìn, và này, mặt đất đã khô. Ngày hai mươi bảy tháng hai hoàn toàn hết lụt.

 

Đại hồng thuỷ theo nghi sử Việt Nam

Trở lên trên, chúng tôi đã thuật hai chuyện truyền kỳ về đại hồng thuỷ. Như các bạn đã thấy, hai chuyện ấy đại đồng tiểu dị, cùng ngụ một ý rằng: sở dĩ có nạn nước lụt đầu tiên, ấy là bởi tại loài người mỗi ngày ở mỗi bất nhân bạc ác, trời phải gia tai như thế trước là để phạt họ mà sau là để cho họ tỉnh ngộ mà thay tâm đổi tính.

Nước Việt Nam ta cũng thế, lấy sự thờ trời làm gốc cũng có nhiều chuyện truyền kỳ tương tự thế nhưng đó chỉ là những câu chuyện nói quá chơi một chút mà thôi. Nói về nạn đại hồng thuỷ theo nghi sử Việt Nam ta, ta phải lấy chuyện “Tản Viên sơn thần” làm chính. Tuy nhiều người đã biết, chúng ta cũng nên thuật ra đây để ta cùng đối chiếu mà xem xét tính cách truyện truyền kỳ của các nước bên Âu khác nước ta như thế nào.

Nước ta, từ vua Hùng Vương trở về trước, dân sự thái bình, làm ăn yên ổn, không hề bao giờ có nạn thuỷ tai. Bấy giờ ở về huyện Phúc Lộc (bây giờ là huyện Phúc Thọ) thuộc tỉnh Hưng Yên, ở trong núi Tản Viên có một ông thần dòng dõi vua Lạc Long. Khi thần còn là người, ông ở với mẹ và nhà nghèo lắm, ngày ngày phải vào rừng kiếm củi. Một hôm ông chặt một cây cổ thụ. Cây cổ thụ vừa đổ xuống thì sao Thái Bạch xuống cứu cho cây sống lại rồi cho ông một cái gậy và dặn rằng: “Gậy này có một tính cách màu nhiệm lạ lùng. Mới trông nó chẳng có gì lạ cả, nhưng chính ra thì nó tiêu trừ được bách bệnh cho người ta; phàm ai đau đớn bệnh gì mà lấy gậy này đánh vào chỗ đau một cái thì liền khỏi ngay và cho nhà ngươi để độ nhân cứu thế”.

Ông được gậy cúi đầu lạy tạ Thái Bạch kim tinh rồi đi ra. Từ đó, ông bỏ nghề kiếm củi và chữa thuốc. Một hôm, đi chơi đến khúc sông kia, ông gặp một lũ trẻ đương xúm nhau lại đánh một con rắn trên đầu có chữ Vương. Biết là rắn lạ, ông bèn đem gậy phép ra đánh một cái vào đầu con rắn. Lập tức, con rắn hồi tỉnh lại và bò xuống sông đi mất.

Ít bữa sau, ông đương ngồi ngắm cảnh ở trước sân thì có một người con trai mặt mũi khôi ngô đem một mâm bạc vàng châu báu đến trước mặt ông mà nói rằng: Thưa ông, tôi là Tiểu Long hầu, con vua Long Vương ở bể Nam. Bữa trước, tôi hoá làm con rắn đi chơi trên trần chẳng may bị bọn trẻ con đánh chết, nhờ có ông nên mới được sống, vậy xin đem chút lễ này để tạ.

Ông nhất định không lấy. Tiểu Long hầu không biết làm thế nào để tạ ơn người cứu sống bèn đưa ra một cái ống linh-tê khẩn khoản mời ông rẽ nước xuống thăm nhà mình ở dưới nước. Đến Thuỷ cung, ông được Long Vương tiếp đãi trọng thể lắm, mở tiệc luôn ba ngày ba đêm. Hôm ra về, Long Vương lại sai người đem ra một mâm bạc vàng châu báu để làm quà cho ông, ông vẫn không nhận. Long Vương không biết làm thế nào bèn lấy một cuốn sách ước ra đưa tặng. Ông cầm lấy cuốn sách ước và đi về mặt đất. Từ khi có quyển sách đó, ông ước gì được nấy, những phép lạ của ông rất nhiều, ít có bực thánh nào theo kịp.

Đến khi ông thành thần rồi thì ông rất thận trọng trong việc ăn ở. Qua cửa bể Thần Khù lên mạn ngược ông chỉ trọn chỗ nào thời dân thuần hậu thì mới ở; những nơi phù hoa bụi bậm, ông rất ghét không khi nào thèm đặt chân. Đến huyện Phúc Lộc thấy dân tình chất phác, cảnh trí có bề trang nhã lại thêm núi Tản Viên cao chót vót ba tầng, ông bèn hoa phép thành lâu đài ở ngay trong núi và chỉ tay làm một con đường về phía Nam núi thẳng từ bến Phan Tân đến Tản Viên. Ông ở từng cao nhất núi. Ngày ngày ông chỉ lấy sự đọc sách làm vui và lấy sự thi ân cho dân chúng làm thú: bởi vậy, khắp tỉnh Sơn Tây hồi ấy đều có lập đình miếu để thờ thần long trọng lắm.

Hồi đó, vua Hùng Vương thứ XVIII có một người con gái tên là Mị Nương đẹp lắm, người nào trông thấy cũng mê: “Mê nàng bao nhiêu người làm thơ”. Thần núi và vua Thuỷ, mê nhất, cùng đến hỏi nàng làm vợ. Vua Hùng Vương bèn phán:

− Một thuyền quyên không có lẽ sánh được hai anh hùng. Vậy thì ngày mai ai đem đủ được đồ lễ đến trước thì ta gả cho.

Sáng hôm sau, thần Tản Viên đem voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao và một chĩnh vàng cốm lại dâng. Y ước, vua Hùng Vương gả Mị Nương cho Tản Viên thần; sau khi lễ tạ cha mẹ, thần đem vợ lên núi ở.

Đến lúc ấy, vua Thuỷ mới đem đồ lễ đến. Chậm mất rồi. Ngài ngậm một mối căm hờn trong bụng, thề quyết phải trả thù kẻ đã nhanh chân chiếm được người quốc sắc. Vua Thuỷ bèn làm mưa to gió lớn và dâng nước lên để đuổi theo cướp về. Thành ra từ đó có nạn lụt. Sách Nam Hải dị nhân chép rằng muốn trừ nạn lụt của vua Thuỷ, thần Tản Viên làm ra lưới sắt, chắn ngang đường thượng lưu huyện Từ Liêm. Vua thuỷ lại đi đường khác, tự sông Lý Nhân vào sát chân núi Quảng Oai, men bờ lên cửa sông Hát Giang, rồi ra sông Lư, vào sông Đà để đánh mé sau núi Tản Viên, lại mở ra các sông nhỏ để đem nước vào đánh mé trước núi, đi qua các làng Cam Giá, Đông Lân, Cổ Nhạc, My Xá, đến đâu xoáy nước xuống thành vực để làm cho các giống thuỷ tộc ở rồi tiến lên đánh nhau với thần núi.

Thần núi thì bảo dân xung quanh đó đan phên chắn nước và dùng cung nỏ bắn xuống; lại sai các loài hùm beo, voi, gấu bẻ cây cối, vận đá ném xuống sông. Mỗi phen đánh nhau, mưa gió sấm chớp ầm ầm, giời đất mù mịt. Đánh nhau xong rồi thì những loài cá, ba ba, thuồng luồng, chết nổi cả lên mặt nước. Kết quả cuộc chiến tranh vì tình ấy thật là thảm khốc, nhưng bởi vì hai kẻ tình địch ấy cùng là thần cả nên cái thù cũng khác người: mỗi năm thần núi và thần biển lại “chơi” nhau một trận, nên đến tận bây giờ dân ta vẫn còn phải chịu cái hoạ “trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết” như ta vẫn thấy vào mỗi mùa nước vậy.

                                                           VŨ BẰNG

Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 124 (23/8/1942)