NHỮNG NẠN ĐỘNG ĐẤT          

Trận động đất kinh khủng nhất đã làm xáo động cả Âu châu và làm tan nát cả một kinh thành lớn

           

Tin Domei ngày 31 Août 1942 báo cho ta biết ở Nhật người ta sắp làm lễ kỷ niệm thập cửu chu niên trận động đất năm 1923 là trận động đất dữ dội nhất ở Kanto. Những cơ quan cứu hoả ở trong nước sẽ diễn những cách dập tắt lửa và nhân dịp đó, người ta sẽ không bỏ qua cơ hội bày tỏ cho mọi người thấy những cách chống với lửa trong những vụ ném bom nảy lửa ra thế nào. Bốn mươi đoàn người chữa cháy phần nhiều lựa chọn trong các học sinh trung học và cao đẳng sẽ dự vào cuộc biểu diễn này.

            Chúng tôi tưởng nhân dịp này chúng ta cũng nên biết đến trận động đất ở Kanto ra thế nào, huống chi vừa đây hãng thông tấn OFI lại báo cho ta biết rằng hôm 1/9/1942 ở Đức lại vừa có nạn động đất trong ngót nửa tiếng đồng hồ, thiệt hại chưa biết ra sao, nhưng động đất mà tới ngót nửa tiếng đồng hồ , đó cũng không phải làg một cuộc động đất không quan trọng vậy. Nói cho thực, trận động đất ở Kanto không phải là trận động đất ghê gớm nhất trong lịch sử loài người từ trước cho tới bây giờ. Trận động ghê gớm nhất, ta phải kể là trận động đất ở Lisbnne ngày 1er Novembre 1755. Trong suốt một năm đó, những núi lửa làm xao động cả mặt đất như báo trước cho người ta một thiên tai sắp xảy ra. Vào khoảng Juin-Septembre, đây đó có vài nơi động đất xoàng như ở Perse,[1] ở Italie chẳng hạn. Đến hôm 11 Septembre thì ở Islande, núi Hecla phun lửa và cả xứ Groenland rung chuyển; sang đến Octobre, ở miền tây nước Pháp và ở Thụy Sĩ có những trận mưa ra máu. Những hạt bụi đỏ vi ti rơi từ ở trên trời xuống; những người mê tín thấy vậy bàn hết cách này đến cách nọ rồi kết luận rằng trời sắp ra tai. Ngày 14 Octobre ở Locarno người ta thấy hơi nóng bốc lên đầy giời và họp lại thành những đám mây đỏ rồi rơi xuống thành hạt nước đỏ: lại mưa ra máu nữa! Tuyết ở trên những đỉnh núi lân cận đều đỏ hồng cả ra. Ở Thụy Sĩ và ở khắp trong nước Ý-đại-lợi, mưa dườn dượt hết ngày này sang ngày nọ, nhiều nơi bị lụt.

            Emmanuel Kant thuật về cái nạn động đất này, − “nạn động đất lạ lùng đã làm rung chuyển một phần lớn quả địa cầu vào cuối năm 1755”, − có kể chuyện rằng: tám ngày trước khi xảy ra nạn động đất, mặt đất laòi người ở co không biết bao nhiêu là côn trùng mà con mắt thế nhân chưa từng được mục kích bao giờ cả. Ở những nguồn sông Lebrijia có hằng hà sa số loài bò sát; ở Carmona giống chuột chạy cuống cuồng như sợ sệt; ở Cadix và Gibraltar người ta hồi hộp lo âu, người và vật linh cảm rằng hoá công đang sửa soạn một thiên tai mà kết quả chắc chắn là bi bi khốc rùng rợn lắm. Kinh đô Portugal lúc ấy đương hồi cực thịnh, nó là trung tâm điểm nền thương mại thế giới, một tỉnh thành ăn chơi xa xỉ, có những lâu đài đồ sộ nguy nga. Không cần phải lâu la gì, chỉ một ngày, phải, một ngày thì cũng đủ tàn phá hết. Sáng mồng một Novembre, hồi chín giờ rưỡi, ba tiếng chuyển động làm rung cả tỉnh. Tiếng rung chuyển thứ nhất độ chừng mươi phút, tiếng thứ hai và tiếng thứ ba ngắn hơn, chỉ độ hai phút mà thôi, nhưng kết quả thật khốc liệt. Bao nhiêu lâu đài nhà cửa đều đổ hết. Lisbonne chỉ còn là một đống vôi gạch ngổn ngang bừa bộn. Thêm vào đó, một con nước ở sông Tage phun lên và tàn phá không còn để lại một tí gì ở hải cảng; rồi tiếp theo đó là một vụ cháy gớm ghe đến nỗi sáng hôm sau không còn tỉnh Lisbonne nữa.

            Scyfarth tả cảnh rằng sau tiếng động thứ nhất, mặt đất vỡ ra một tảng to, 4.000 cái nhà và tất cả những người ở trong những nhà đóđều bị chôn trong hố. Tại một cái bến, lúc động đất có 800 lính thuỷ và người đánh cá chìm xuống dưới bể; gió to mưa lớn nổi lên và cuốn 12 cái thuyền câu và tàu thuỷ. Ngọn sóng cao nhất đánh vào Lisbonne cao 13 thước. Nước tràn vào tỉnh như thác và cuốn không biết bao nhiêu là người đi mất; đến khi nước rút ra thì lòng con sông Tage cạn hẳn; sức nước mạnh quá đã đem cả nước sông đi mất rồi.

            Không cần phải nói, ta cũng có thể hình dung được sự khổ sở và nỗi lo sợ của dân Lisbonne lúc ấy như thế nào: có người phát điên; ai cũng tìm đường chạy trốn; những gian phi cường bạo tha hồ mà hoành hành, đi lật xác chết để tìm của rơi và bóc lột. Người ta kinh khủng đến nỗi không biết làm gì cả; phải một tuần lễ họ mới định thần lại được để nghĩ cách tạo tác lại cái tỉnh thành trù phú kia. Số dinh thự lâu đài và nhà cửa bị tan nát ước độ 25.000 cái. Bao nhiêu nhà thờ bị đổ gãy hết. Số người chết không biết đích là bao nhiêu. Người ta ước chừng số đó ít nhất cũng từ 25.000 đến 35.000 cái. Có người nói chắc là độ 60.000 cả thảy. Tuy vậy, trận động đất này không phải chỉ tàn phá có một tỉnh Lisbonne mà thôi đâu. Thủ đô của xứ Portugal chỉ là trung tâm điểm của nạn động đất ấy. Chính nạn động đất làm rung chuyển một chu vi rộng hơn Lisbonne mấy ngàn lần. Chu vi đất bị động là hai triệu rưởi cây số vuông. Từ xưa cho tới nay, 1942, chưa hề có một trận động đất nào to như thế. Đất động đến tận bờ bể Maroc một phần, và đến bờ bể Andalousis và Pháp một phần. Những tỉnh Cadix, Xérès và Alyérisas đều bị tàn phá gần hết. Gibralta và Malaga thiệt hại vô kể. Ở Séville, những nhà gác chuông cong queo cả lại như “những cây lau sậy bị gió táp”, ở một cái nhà thờ Madrid, một cây thập tự bằng đá dựng trên nóc nhà thờ rớt xuống đất và làm vỡ đầu hai đứa trẻ chết ngay. Trong triều, hoàng thân quốc thích chạy trốn ra cánh đồng và dựng lên vài lều để ở. Tại Mogador và Fez, nhà cửa và nhà to đổ vỡ đầy đường. Đến tận bờ bể Algérie, sự thiệt hại cũng ghê gớm lắm. Tại Villa de Gaya, rất nhiều tàu bè bị đắm, các hải cảng nhỏ đều bị tan nát. Tại Cadix, nước cuốn 500 người mang đi. Ở dọc bờ biển Phi châu, nhiều đoàn người bị sóng cuốn; ở Centa và Tanger hàng triệu cá và súc vật chết nhăn ra trên đường.

            …Cho đến tận Hambourg, nạn động đất này còn để lại những kết quả cực kỳ rùng rợn. Nhà thờ bị đổ, đèn treo bị văng đi, chuông không có người kéo mà cứ kêu vang lên đổ hồi. Ở Lubeck, ở Travemude, ở Rendsburg, đất cũng động; động rất mạnh ở ở Soltabe và ở Bavière. Đến tận Teplitz, bể cũng vẫn còn chao, nhiều người đi tắm bị chết. Đất rung động mãi đến tận bờ bể Mỹ châu, đến tận tháng Mars 1756 mới hết. 

Núi Vésuve phun lửa gây nạn động đất khủng khiếp ở Ý-đại-lợi năm 1906

            Đã lâu, người ta hầu như quên mất núi lửa Vésuve ở Naples bởi vì sau trận động đất 1872 thì cái núi lửa đó yên rồi không lộ vẻ gì là hung hăng nữa. Mọi người đã tưởng lầm. Đầu Mars 1906, mây đen mù mịt phủ ở trên đỉnh Vésuve, núi gần thét và kêu như tiếng súng. Lòng núi đất mỗi ngày mỗi kêu to và giáo sư Matteuci báo rằng một cuộc động đất lớn thể nào cũng xảy ra, núi Vésuve  sẽ phun lửa. Lời tiên đoán đúng. Ngày 4 Avril, những phún thạch (lave) từ trong lòng hoả sơn phun ra và chảy xuống theo hai triền núi. Đồng thời ở Naples có những trận mưa ra gio than. Dân làng ở những vùng lân cận bắt đầu lo sợ, người ta dắt nhau đi trốn và rủ nhau đắp những con đê kiên cố để ngăn cản phún thạch, nhưng than ôi, quá chậm. Ngày 7 Avril, phún thạch đã chảy đến làng Boscatrecase. Ở trong nhà, người ta đã thấy nóng không chịu được. Đất bắt đầu rung động; lòng núi kêu sùng sục lên như một cái lò vôi, từng loạt khói mù trời bốc lên và che phủ hết cả thành phố. Đến đêm chue nhật 8 Avril thì cái thiên tai đi tới cái độ hoàn toàn của nó. Cả trái núi Vésuve đỏ rực lên như một cái lò than hồng vĩ đại; đất gầm lên, hét lên làm cho nhiều người phát điên; khói bốc cao 150-200 thước. Những phún thạch trắng xoá phun ra cao 500 thước, tiếng rung chuyển ầm ầm làm cho nhiều người ở Naples ngã lăn ra và điếc tai. Tro bụi và than rơi xuống cùng với nước nóng. Từ 2 giờ sáng trở đi, phún thạch chảy tràn hết cả vào làng Boscatrecase. Cả làng đang im lặng thì đất rung chuyển dữ dội, bao nhiêu cửa sổ đều tan vỡ hết. Lớn bé trẻ già dắt nhau chạy trốn. Cùng lúc ấy, hoả sơn Vésuve lại do hai cái miệng khác phun phún thạch ra và phủ kín cả vùng Caramella. Lính sem đầm phải vào từng nhà để thúc giục dân đi tránh nạn. Đến khi cả dân cả lính vừa đi khỏi thì phún thạch đổ xuống, sau đó mười phút, cả tỉnh bốc lửa rồi đất nứt ra. Núi lửa thêm một miệng nữa và mỗi lúc càng phun lửa ra dữ dội thêm. Ở Naples, tất cả mọi nhà đều rung chuyển. Bao nhiêu người đều phải chạy trốn về vùng quê hết và phải ngủ ở ngoài trời. Đến 7 giờ sáng thì bao nhiêu thành phố ở gần chỗ núi lửa đều bị chôn vùi ở dưới trận bão phún thạch, tiếng kêu tiếng nổ mù trời; phún thạch bắn lên cao tới 1.000 thước rơi xuống đất và lại họp thành những cái núi lửa con. Đất, trong lúc ấy, luôn luôn bị rung chuyển. Sự thiệt hại không thể nào mà ước lượng được. Đường xe hoả núi Vésuve tan nát, những đường xá mạn Torre Anununziata và Torre del Greco cũng vậy. Mưa than, mưa nước nóng, mưa lửa rơi xuống khắp mọi nơi; hai người đứng cách nhau một sải tay không thể mà nhận ra nhau. Người ta cố sức ngăn phún thạch lại nhưng không được. Ở Naples người ta tưởng như đương sống vào một thời kỳ mà quân địch đến cướp thành: 150.000 người không có giường ngủ, thức ăn. Số đó mỗi lúc mỗi tăng thêm. Tiếng kêu khóc như ri. Nhà vua và hoàng hậu phải lập tức từ Rome đến Naples để phủ dụ. Người ta tổ chức những lễ cầu yên ở dưới những trận mưa tro; hàng triệu người khóc ầm ầm lên như quỷ sứ ở dưới địa ngục giận giữ người trần gian vậy.

            Ngày thứ hai, núi Vésuve lại phun lửa dữ dội hơn. Ở Ottayano, năm nhà thờ bị tàn phá không còn sót lại một thứ gì; người ta tính có hơn 100 người chết. Số bị thương ước lượng trong trong tất cả vùng độ 700. Nhà vua muốn ngự giá đi thăm tất cả những vùng bị nạn, nhưng không được, đành phải trở về vì trận mưa ra đá, vôi, than, lửa đó cũng càng ngày càng dữ. Tro và đá rơi vào trong nhà người ta, than và lửa bay vào tai, vào mũi, vào miệng và làm cho nhiều người ngạt thở. 10 giờ sáng hôm ấy, phố Via Toledo là một phố sầm uất nhất Naples rẫy lên như một con vật bị chọc tiết, cái chợ Monte Otevito sụp đổ vì đâst rung chuyển dữ quá. 12 người chết ngay. Hàng trăm người bị tử thương. Đồng thời những người lính đi cứu tỉnh Boscotrecase về thuật lại chuyện rằng cái tỉnh này đã bị xoá hẳn trên mặt đất. vùng Torre Annunziata có 100 người chết. Tại nhà thờ San Giuseppe trong khi ông cố đạo cho gọi các con chiên lại để cầu yên thì bên ngoài vẫn mưa ra nước nóng, ra than, ra lửa. Mọi người đang cầu kinh thì trận mưa đó làm vụt mái nhà thờ và làm chết hết cả những con chiên: 100 người chết liền tại chỗ, trong đó co nhiều đàn bà và trẻ con. Portici bị chôn hẳn xuống dưới làn phún thạch. Ở Soumara than tro cáo tới 2 thước , 5 cái nhà và 3 nhà thờ mất tích. Torre del Greco, San Gennaro và Sarno không còn sót một người. Cây cỏ bị cháy sém hết. Mùi cháy và mùi diêm sinh bay phủ cả gầm trời. Trên đỉnh Vésuve từng đám mây đen nặng nề bao phủ, giời đen và đục, và suốt ngày suốt đêm như thế. Rạng ngày 11 Avril núi Vésuve vẫn cứ gầm hét lên. Bụi và than bay trong những phố xá, dân gian bỏ trốn, xe lửa không còn toa mà chở khách. Thấy “thần núi” ra oai không ngừng, dân gian xô cả vào trong nhà thờ để cướp tượng thánh Janvier để nhờ ngài che chở cho. Bảy vạn người khóc, kêu và chen chúc đè lẫn nhau, lính cảnh sát bất lực, dân chúng làm như thể xâm chiếm nhà thờ vậy. Mười bốn vạn cái tay giơ lên trời. Người ta nghe thấy những tiếng kêu này ran lên: “Lạy thánh Janvier, chỉ có thánh cứu được chúng tôi thôi. Xin ngài thương đến thành phố Naples này!” Rồi những cánh tay khoẻ mạnh cướp lấy tượng thánh Janvier đem đi rước ngoài đường. hình như núi lửa Vésuve nghỉ gầm hét độ mươi mười lăm phút. Rồi mưa than, đá và bụi lửa lại bắt đầu và có phần lại dữ dội hơn trước nữa. Những người gác nhà thương bèn bỏ cả bệnh nhân mà chạy mất. Người ta phải đem hai chiến thuyền đến chở 800 tội nhân ở San-Francesco đi Palerme. Naples hoàn toàn là một tỉnh thành chết. Thỉnh thoảng lại có một đoàn người vừa khóc vừa kêu đi loạng choạng ở giữa đường. Người ta phải đeo mặt nạ để phòng than lửa và đá khỏi bay vào mặt.

            Phóng viên báo Berhsier Tageblut là bác sĩ Hano Barth đi điều tra về cái nạn “kinh thiên động địa” này đã viết rằng: “Lúc tôi đến San Giovanni, hàng chục toa xe lửa bị tan nát nằm trơ ra đấy. Bên trái, bên phải, cây cối bị cháy xém hết; nhà nào nhà nấy đều bị phủ dưới một lần phún thạch trắng như tuyết vậy. Phía sau Giovanni, có một cái tường khói màu vàng đục. Xe càng đi gần đến cái tường ấy thì màu sắc cái tường ấy lại càng gớm ghê mọi rợ. Rồi người ta bắt đầu trông thấy núi Vésuve. Ở miệng núi phun ra những luồng hơi tím dày đặc, vung ra ở xung quanh những trận mưa than và đá. Ở ga Portica hàng ngàn hàng vạn người đứng đợi tàu đi Naples. Cái cảnh chết chóc làm cho người can đảm nhất cũng phải rợn tóc gáy. Màu trời thay đổi luôn. Thỉnh thoảng đỏ rực lên như mười tỉnh thành cùng cháy một lúc, có lúc lờ mờ huyền ảo như núi lửa gầm lên không ngớt. Ngồi trong toa xe lửa, tôi thấy mặt kính xe vỡ hâdu hết. Than và tro bay vào khắp tàu, người ta nhắm mắt lại không dám trông, bịt mũi lại không dám thở. Ở ga Torre del Greco hàng ngàn hàng vạn người đứng trú chân. Vô ích. Xe lửa không chạy được, than, tro ngập lên đến nửa thước tây cản tàu lại, bánh xe không quay được. Cả tỉnh Torre del Greco chạy trốn, 12.000 người định do đường bể ra khơi. Bể sáng lên một lát rồi lại sôi lên sùng sục. Người ta phải đi bộ đến tỉnh Naples”.

            Ngày 14 Avril, cuộc động đất bớt sức mạnh đi. Núi Vésuve không phun lửa nữa. Những tỉnh Torre Annunzia và Torre del Greco hoàn toàn không còn gì cả.  

 

 

Trận động đất đã tàn phá cả tỉnh San-Francisco

            Đêm thứ ba 17 Avril 1906 tỉnh Golden Gate ở Nữu Ước[2] vẫn còn ăn chơi vui vẻ thì sớm tinh mơ, hồi 5 giờ 15, một tiếng động làm rung chuyển cả nhà cửa. Bao nhiêu ống khói đều đổ hết. 10 phút sau đất rung chuyển một cách gớm ghê, gạch lát hè tung lên trời, nhà cửa sụp xuống, bao nhiêu nhà chọc trời đều rụi cả xuống và chao đi chao lại. Có nhiều cái đổ. Lúc ấy, hầu hết dân trong tỉnh hãy còn đương ngủ. Họ giật mình thức dậy và cứ nguyên quần áo ở trong nhà họ chạy cả ra đường. Trong một tiếng đồng hồ những tiếng gầm của trái đất nổi lên không ngớt. Đất động dữ dội quá đến nỗi không còn mọt người nào đứng vững. Người nào như cũng phát điên lên. Số người chết chưa lấy gì làm nhiều lắm. Nhưng họa vô đơn chí, ngay lúc ấy một trận hoả tai lại nổi lên. Lửa đốt cả một tỉnh ra tro, mà một tỉnh như thế nào? Một tỉnh trù phú nhất của Mỹ châu, có tới 400.000 người ở. Lửa phát ra bắt đầu từ đâu? Không ai biết rõ, nhưng người ta biết chắc lửa phát ra cùng một lúc ở nhiều nơi khác nhau. Động đất làm đổ cả ống khói, bếp, lửa, ống dẫn điện, − chắc chắn những cái này đã gây nên cuộc hoả hoạn, không sai. Chỉ trong một tiếng đồng hồ cả tỉnh thành bốc cháy không tài nào mà dập tắt được ngọn lửa. Bởi vì ngọn lửa bốc dữ dội quá, đã đành, mà còn vì lẽ người ta không có nước; bao nhiêu ống dẫn nước đều đã bị trận động đất vừa rồi phá tan hết cả. Thoạt đầu người ta còn lấy cốt mìn phá đổ vài nhà mà ngọn lửa bố to để cho không cháy lan được sang những nhà bên cạnh, nhưng lửa cứ bốc rền. Đến trưa đã có tới 200.000 người không có nơi trú ẩn, không có áo mặc. Đồng thời đất lại chuyển động dữ, khách sạn Valencia năm từng sụp đổ; khách sạn Kingsley cũng vậy, đè chết 80 người. Một nhà nuôi trẻ bồ côi tan nát, 200 trẻ con chết. Một cái bình dân phạn điếm nổ bung lên giết 70 người. Hầu hết những nhà băng lớn đều bị tà phá. Cái nhà chọc trời 12 tầng Western Union Telegraph tan ra từng mảnh vụn, nhà ngân hàng Mutual Bank 8 tầng, cũng vậy. Nhà Union Trust 11 tầng chỉ còn là một đống vôi gạch, hai cái lâu đài báo chí của “ông vua báo chí” là Hearst không còn để lại mọt di tích cỏn con gì; nhà San Francisco Call 20 tầng của một nhà đại điền chủ Đức cũng tan nát hết, cả cơ nghiệp của ông này, trong một phút, chỉ còn là một đống tro. Nhà hát đổ nát không biết bao nhiêu mà kể; người ta phải lấy cốt mìn làm nổ nhà Columbia để ngọn lửa khỏi lan ra thêm nữa. Lính cứu hoả tỏ ra bất lực. Đến đêm, lửa vẫn cháy ngùn ngụt như thường, 20 vạn người không có nhà ở, không có thức ăn, không có áo mặc. Những người điên trong nhà thương San José chạy nhảy cả ngoài đường, ác thú của một gánh xiếc gầm thét phá lồng ra định ăn thịt người nhưng chết cháy cả ở trong lửa đỏ. Cả tỉnh không có đèn. Cướp trộm như rươi. Mùi hôi khét lộn mửa. Lửa bén vào khu buôn bán. Hàng vạn người chết. Đến sáng lửa lan sang khu phố Khách. Có một điều lạ nên chú ý: đêm ấy ở San Francisco có 160 đứa trẻ ra chào đời.

            Đến sáng thứ năm, lửa vẫn cháy. Đứng xa 25 dặm người ta còn trông thấy ngọn lửa bốc lên, Dân đói khóc như ri. Người ta tổ chức ngay những cuộc cứu tế. Xe lửa chở lương thực đến San Francisco chạy với tốc lực 120 cây số một giờ. Chiều thứ năm, nghĩa là 36 giờ sau vụ động đất, người đã có cơ thắng lửa. Lính cảnh sát làm việc rất hăng hái. Những kẻ trộm cướp, những người nhờ gió bẻ măng bị xử tử có đến ba bốn trăm. Đến sáng thứ sáu, lửa mới tthật tắt. Dân chúng bắt đầu thở được, nhưng ba phần tư tỉnh San Francisco đã tiêu huỷ ra than mất rồi. Số người được chôn cất ngay là 2.000, còn bao nhiêu người bị đè bẹp mà người ta chưa tìm thấy xác! Số thiệt hại tính ra tới 400 triệu đô-la. Cuộc nghĩa quyên mở ra ngay, bốn ngày đầu thu được 12 triệu. Các ông Mackay, Carnegie và Rockfeller quyên mỗi ông 100.000 đô-la. Một người vô danh tự xưng là “bạn của nhân loại” quyên 25.000 đô-la. Dân Mỹ cho cái tai nạn này là một tai nạn của riêng quốc gia nên nhất định không lấy tiền quyên của nước ngoài. Đến tận sáng 20 Avril, lửa mới thực tắt hẳn. Nhà triệu phú Cooker tuyên bố rằng chỉ 5 năm nữa thì San Francisco sẽ lại trù phú và đẹp đẽ như xưa, có khi lại đẹp hơn là khác. Lời nói ấy đến nay nghiệm lại thì đúng thật.

 

Động đất ở quần đảo La Sonde: núi Krakatau và núi Temboro phun lửa

            Ở gần Java trong quần đảo La Sonde có một cái đảo tên là Krakatau. Đó là một cái núi lửa ăn thông với lòng bể. Chính cái núi lửa đó cao 859 thước, vào hồi 1680 đã một lần phun lửa rồi. Từ đó người ta cho rằng núi lửa đã tắt. Nhưng một hôm nhân dân Batavia bỗng nghe thấy những tiếng nổ kinh thiên động địa. Người ta đưa mắt hỏi nhau, người ta điều tra xem những tiếng nổ kia ở đâu ra trong hai ngày trời. Đến mãi tận lúc những cái tàu từ Sumatra lại báo rằng núi lửa Krakatau phun lửa suốt trong hai tháng Juin và Juillet. Ngày 11 Août, một người Âu tên là Tezenaar lên thăm dò trên núi đến lúc về có thuật lại rằng núi Krakatau do ba miệng đã phun lửa lên ngút trời. Đến 26 Août, núi lại phát mấy cái miệng nữa, khói bốc lên nghi ngút, rồi đến 27 thì mặt đất rung chuyển, tiếng kêu dậy lên suốt ngày suốt đêm, không một người nào nhắm mắt được. Đảo Krakatau vỡ ra. Cái chỗ trước kia là đất bây giờ hoá ra biển mênh mông sâu thẳm; người ta đo có chỗ sâu đến 300 thước. Thật là lần thứ nhất trong lịch sử nhân loại mà lòng cả một cái vỏ trái đất bị tiêu ma đi như thế. Sóng đánh mỗi lúc một cao, 12 làng bị tàn phá, hàng ngàn người chết. Núi lửa phun phún thạch lên dữ dội đến nỗi không khí rên ầm ầm lên. Tro than rơi xuống cao tới 30-40 thước, nhiều làng mất tích. Những gạch đá do miệng núi lửa phun ra có hòn to bằng đầu người; những chất nước và những vật linh tinh phủ cả mặt bể cho đến đảo Sumatra và Java. Người ta đã cho tai nạn này là tai nạn ghê gớm nhất về thế kỷ thứ XIX. Số người chết độ 30.000, một nửa chết ngay ở đảo Krakatau, một nửa chết ở những đảo lân cận. Những cái cột khói bốc cao lên trời đến 40-50 thước.

            Trước nạn động đất do núi lửa Krakatau phun lửa, cũng trong quần đảo La Sonde có một núi lửa gây một tai nạn không kém phần kinh khủng: đó là núi lửa Temboro cao 2760 thước, đứng trên đảo Sumbawa, có độ 150.000 người ở. Cũng như núi Krakatau, đã lâu lắm, có lẽ đến 100 năm, núi Krakatau yên tĩnh không phun lửa gì cả, những người thổ dân vẫn trèo lên hái củi và đập đá. Đột nhiên ngày 5 Avril 1815 núi Temboro gầm hét lên và miệng núi lửa phun ra những đám khói khổng lồ dày đặc. Núi gầm hét luôn 5 ngày 5 đêm tung đá, vôi và những chất khác ra những vùng lân cận. Đến 10 Avril, tai nạn ấy đến cái độ hoàn toàn của nó. Chính núi Temboro chao đi chao lại và làm nghiêng cả đảo Sumbawa. Phún thạch tung ra và chảy xuống cả hai triền núi, đốt cháy hết mùa màng, cây cối, nhà cửa, người và vật. Trận động đất dữ đến nỗi một phần quần đảo La Sonde bị lay chuyển. Ở Java và Celebes, người ta còn trông thấy lửa phun rất rõ ràng, tiếng nổ to đến nỗi ở xa 400 dặm người ta còn nghe rõ. Cùng một lúc với bão bể, trời lại gia thêm cho dân đảo một trận bão gớm ghê nhổ hết cả cây trong rừng. Tỉnh Sumbawa là tỉnh to nhất trong đảo có 12.000 người chết. Lửa phún thạch, động đất, bão, gió và sóng bể chỉ trong có ít tiếng đồng hồ đã làm cho một cái đảo phì nhiêu là thế trở nên một đống gạch vụn, vôi cát đầy dẫy, người chết ngổn ngang, chết vì tai nạn mà cũng chết vì đói nữa. Sau cùng người ta tính ra rằng có tất cả 24.090 người chết trong nạn này. Dân đảo phải đóng bè và lên tàu đi trốn sang những đảo khác. 20 năm sau người ta mới kiến thiết lại được đảo thành một xứ làm ăn thịnh vượng.

 

Nước Nhật, một nước có nhiều nạn động đất nhất

            Không phải chỉ bây giờ ở Nhật Bản mới có nhiều nạn động đất. Từ mấy mươi thế kỷ trước, Nhật vẫn là một quần đảo mà nạn động đất xảy ra luôn. Năm 1703, trận động đất ở Yeddo giết hại 37.000 người, riêng tỉnh Sagami có 10.000 người chết. Sau trận động đất ấy một thế kỷ rưỡi đất thường rung chuyển luôn. Cho đến ngày10 Novembre 1855 thì một trận động đất khác dữ dội hơn tàn phá cả một kinh thành Tokio. Luôn trong nửa tháng, đất rung động không lúc nào ngớt, luôn trong nửa tháng, một trận nữa lại dữ dội nổi lên, thiêu huỷ hàng mấy vạn nhà bằng gỗ; người ta ước lượng số người chết lần này là 100.000 người. Nhưng người Nhật vốn có đức cần lao, kiên nhẫn, nên họ không chịu thua cái tai nạn khủng khiếp kia. Họ xây dựng lại kinh thành Tokio, nhưng ác thay, ngày 28 Octobre 1891, lại một trận động đất khác xảy ra, tàn phá giữa đảo và nhất là những cánh đồng Mino Owari. Bốn tỉnh lớn là Ogaki, Gifu, Kasetnaisu và Takegabarna bị phá huỷ, 200.000 nhà đổ nát, 12.000 người chết.

            Năn năm sau, một trận động đất kinh người do từ lòng bể đưa lại nuốt chửng cả thành phố Kamaishi. Hôm ấy là 15 Juillet 1896, dân chúng đương vui chơi, vì đó là ngày hội trẻ con. Đến 2 giờ chiều thì trời đất gầm lên như báo trước một cơn giông tố. Không hkí nặng nề, khó thở; không có một ngọn gió; màu trời xám như chì; mưa dữ dội; người ta bắt đầu thấy mặt đất lay chuyển, nhiều người ngã quay ra. Đến 8 giờ tối, một cây nước cao 25 thước vọt lên cuốn cả nhà cửa, người chạy thoát được nhưng đồ vật thì mất cả. Đến khi sóng rút ra thì cả tỉnh đã ở dưới làn nước bạc, 23.000 người chết.

            Từ 1855, ở Tokio, những nhà gỗ được thay đi hầu hết. Người ta bắt đầu xây những nhà chọc trời nhỏ bằng đá và sắt, nhưng sức người thắng thế nào lại với sức trời, ngày 1er Septembre 1923, vào khoảng trưa, một tai nạn kinh khủng lại xảy ra và làm cho hết thảy mọi người còn nhớ như in trong óc. Giữa một ngày trong sáng, kẻ đi người lại dập dìu ngoài phố, đất tự nhiên rung chuyển ầm ầm và chỉ trong chớp mắt, thảy thảy đổ vỡ hết, tan nát hết. Những phố xá đông vui là thế bây giờ chỉ còn là những gạch ngói và đá vụn. Tokio có hàng mấy ngàn người chết, số người bị thương không đếm được. Những toà lãnh sự Mỹ, Hoà Lan, Pháp và Ý, những ngân hàng tan nát hết, duy chỉ có cung điện nhà vua là sót lại mà thôi. Nhiều người trong hoàng phái bị chết, bao nhiêu ga xe lửa đều bị phá huỷ, 8 xóm tan tành không còn lại một tí gì, 200.000 nhà đổ: 50.000 đổ vì đọng đất và 150.000 vì bị cháy. Cái tai nạn này không những chỉ tàn phá Tokio mà thôi, nhưng cả Yokohama nữa. Cây nước đổ xuống tỉnh này làm gãy nát hết những ống dẫn hơi và dẫn nước, dây điện ngổn ngang cả ngoài đường, 50 cái thuyền đắm. Lập tức 40.000 lính được gọi ngay đến để cứu cấp, nhưng hoả hoạn dữ dội quá nên không tài nào dập được. Ngay hôm sau, nhà quay phim Mỹ, Ariel Varges đi một cái máy bay riêng thăm hai tỉnh Tokio và Yokohama hãy còn đang cháy và động đất, có thuật với hai ông Eugène Szalinari và Nicolas Aranyossi, − là những người cho chúng tôi rất nhiều tài liệu trong số báo này, − như sau này:

            “Ở Kobe đi, trời xanh và không mây. Bay được nửa giờ thì trời tối xẩm hẳn lại, sương mù bay khắp mọi nơi: từng đám khói phủ kín cả trời. Chúng tôi thấy ở chân trời một chấm đen ở giữa đỏ, từa tựa như một cái nấm khổng lồ mọc ở dưới đất lên. Cái nấm ấy to trong thấy, cứ từ từ bay lên cao và hình như tãi ra trên mặt đất, cho đến khi những đám mây xám hoá ra những luồn khói đen, bay lượn nặng nề. Lát sau, cái lòng nấm đương màu đỏ hoá ra một cái biển lửa. Chúng tôi bay cao 700 thước đến kinh đô Nhật Bản lúc này đương cháy dữ. Chúng tôi vượt qua hai cái bể: trên đầu chúng tôi là khói, khói mù mịt, ở dưới chân chúng tôi là bể đỏ, đỏ những lửa. Người ta không làm thế nào mà nhận ra lâu đài, nhà cửa, người và vật nữa. Thật là một cõi địa ngục bốc lửa rực lên ở trước mắt chúng ta, một cõi địa ngục dài hàng trăm cây số từ Nam lên Bắc, từ Đông sang Tây, một cõi địa ngục nóng đến nỗi bay cao 700 thước trên trời, chúng tôi cũng không chịu được, phải cho máy bay lên cao hơn nữa. Ôi, cái đẹp mới khốc liệt thay, ai mà trông thấy còn quên làm sao cho được!”

            Tám ngay sau, trận hoả hoạn mới dịu đi, người ta phải kéo đổ những xác nhà xuống, nên tỉnh Tokio phải hy sinh 150.000 cái. Sự thiệt hại không bút nào tả được.Nửa triệu người chết, những cái hại trông thấy tỉnh nhẩm cũng đã 5 ức (milliards) Mỹ kim. Lập tức, người ta mở cuộc lạc quyên, và đức Minh Trị thiên hoàng quyên 1 triệu yên, chánh phủ quyên 10 triệu.

            Năm năm sau, Tokio lại đẹp đẽ như thường. Ở chỗ những nhà cửa đổ nát bây giờ những nhà cửa đẹp hơn thay vào. Trận động đất hầu như bị quên lãng. Người ta chỉ thấy rằng trong việc chống cự lại với những thiên tai, dân Nhật đã tỏ ra là một dân tộc can đảm và kiên nhẫn.

                                                                       VŨ BẰNG

                                   Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 128 (20/9/1942)  

           

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

[1] Perse tức Ba-tư, tên gọi cũ của nước Iran ngày nay.

[2] chỗ này có lẽ tác giả lầm: Golden Gate ở San Francisco, bang California, ở phía tây nước Mỹ, trên bờ Thái bình Dương,  trong khi bang New York và thành phố New York ở phía đông nước Mỹ, trên bờ Đại Tây Dương.