XUÂN GIÀ

 

北 闕 休 上 書  Bắc khuyết hưu thượng thư

南 山 歸 敝 廬  Nam sơn quy tệ lư

不 才 明 主 棄  Bất tài minh chủ khí

多 病 故 人 疏  Đa bệnh cố nhân sơ

白 髮 催 年 老  Bạch phát thôi niên lão

青 楊 逼 歲 除  Thanh dương bức tuế trừ

永 懷 愁 不 寐  Vĩnh hoài sầu bất mỵ

松 月 夜 窗 虛  Tùng nguyệt dạ song hư.

Mạnh Hạo Nhiên bốn mươi tuổi vào Trường An thi Tiến sĩ, vì thất ý vua Huyền Tôn phải đuổi về. Cảm khái gieo mấy vần thơ này, ý nói: Thi đã hỏng thì thôi, chả nên đề thư lên Bắc khuyết nữa. Về cái nhà tồi của mình ở núi Chung Nam mà ở. Vua sáng bao giờ cũng vẫn cần người tài, chỉ vì mình bất tài nên vua không dùng đó thôi! Người cũ vẫn yêu thương, chỉ vì mình đau ốm luôn nên họ thưa viếng thăm đó thôi! Tóc bạc đưa cái già đến; ngày xuân lại giục cái năm cũ hết đi. Bâng khuâng quá, nằm không sao mà ngủ được. Trong lúc đó thì cửa sổ bỏ ngỏ, vầng trăng ở trên cây thông chiếu vào buồng, kết bạn với mình.

Mấy câu thơ trên tả cái buồn của người già lúc năm tàn tháng lụn, cho ta thấy hết cái trơ trẽn của làn tóc bạc trước cảnh tam dương khai thái.

Ngoài kia, cây thông xanh mà giăng thì đẹp, mùa xuân đến như một khúc nhạc véo von. Mà trong này thì mình đã hết thời quách mất rồi, lại bệnh tật. Nhưng thật ra thì người già có vô dụng không? Mà thợ trời có hẳn là khe khắt với làn tóc bạc, không cho người già hưởng một tí gì sự đầm ấm và vẻ tươi đẹp của mùa xuân không?

Không. Vua sáng bao giờ cũng ưu đãi kẻ hữu tài; bè bạn bao giờ cũng vẫn trung hậu, thì hoá công kia bao giờ lại yêu ai mà ghét bỏ ai. Cái kho vô tận của mùa xuân đấy, ai cũng có thể thu vào mà hưởng được, cũng như hạnh phúc, đâu phải là của mua mà có nhưng chính là phần thưởng cho ai gây được nó. Cái khó ở đời là ở chỗ biết nhận lấy biết thu vào, biết tìm hưởng vậy.

Ý tưởng trên đây đã đến với tôi một đêm gió xuân đẩy cành mai, ngồi trong tệ lư nghĩ một bài văn tết cho tờ báo mình làm. Ờ, từ trước đến nay, nói về xuân, về tết, làm sao người ta lại gác hẳn người già ra bên ngoài, chỉ nói ròng đến thiếu niên khách và thiếu niên hôn? Làm như thế những người già là những người bỏ đi rồi, ai nói đến họ thì làm giảm mất cả cái vẻ đẹp của mùa xuân đi vậy!

Sự thực, không thế. Ở dưới bóng mặt trời, người nào cũng có một cái đẹp riêng và hàm những vẻ nên thơ riêng. Nhưng hiểu biết được hết cả cái đẹp của mùa xuân và những sự biến chuyển vô cùng của trời đất, hình như không phải là thiếu niên khách và thiếu niên hôn thì phải. Không, chỉ có tuổi già mới hiểu biết sự nghiêm trọng của sự đổi thay của tạo vật, tuổi già mới biết nhận và do đó mới biết tận hưởng hạnh phúc của trời cho. Đối với họ, ván cờ đã chơi rồi, cái chết gần kề đấy, sự khổ sở vất vả không làm cho họ sờn lòng nữa. Những thú vui đã trải cả rồi, bây giờ họ tận hưởng những cái thú vui gì mà trời còn để lại cho, vậy nên mỗi khi xuân đến, nhìn một mảnh trăng, hay ngắm một bông hoa nở, nghe con chim hót, họ có thể còn sướng hơn những người thanh niên reo hò ầm ỹ để chúc mùa xuân vạn tuế.

Tuổi già vốn trầm. Có lẽ một phần vì thế nên người già bao giờ cũng được kính trọng, trừ những dân tộc lạc hậu ra thì không kể.

Người ta thuật chuyện rằng ở về những vùng biển, miền Nam Á Đông, mỗi khi mùa xuân đến, người ta giết người già đi để đất cho những người trẻ ở mà vui đời. Cho nên một khách du, bữa kia đến Phi châu, gặp một ông già đã nghe thấy ông nói rằng:

− Thưa tôn ông sinh phúc cho tôi một ít thuốc ruộm tóc. Nếu “chúng nó” trông thấy tóc tôi đã bạc thì chúng sẽ giết tôi.

Có danh sĩ lại thuật rằng một mùa xuân kia ông đến chơi một miền hoang vu ở miền Nam. Ở đó, người ta có tục hễ trong nhà có ông già bà cả, thì bắt trèo lên một cây dừa rồi con cháu đứng ở dưới rung cây. Nếu các ông già bà cả mà còn bám được vào cây không ngã, họ còn quyền sống; nhưng nếu họ rơi xuống đất thì lòng trời đã định đoạt rồi, con cháu họ sẽ trói ghì cánh khuỷu những ông cụ bà cụ ấy lại đem ra chém. Lại có nơi còn có cái tục rất kỳ khôi nữa: ông giám quốc, cuối một năm, bắt bao nhiêu vị tổng trưởng của mình nhẩy qua vòng lửa để xem gân cốt của các vị tổng trưởng có còn dẻo giang không; nếu còn dẻo, thì dùng; mà nếu gân cốt đã suy nhược, không dùng được nữa thì phế bỏ.

Những cách đối đãi với người già vừa kể trên kia mới nghe thì tàn nhẫn, nhưng không phải là những chuyện lạ lùng quá sức tưởng tượng đâu. Chính trong các sách vở mà ta học ở trường đã từng cho ta biết rằng giống thú vật cũng đã từng xử với những con già như thế: con Akela trong “Sách rừng” được kính trọng là thế mà đến khi không vồ được con hươu non nữa, chẳng bị những con vật trẻ xông vào giết đó ru?

Những người mọi rợ đối với người già cũng như thú vật vậy.

Người văn minh thì khác. Càng những nước lớn, người ta càng thấy người già làm việc nhiều. Clémenceau và Gladstone đến tám mươi tuổi mới làm giám quốc; Fabius đã cứu thành Rome cũng là một ông già; trận chiến tranh 1914 giữa Đức và Pháp, hai bên đều là những tướng tá già chỉ huy; Agammemnon không cầu có mười người giúp việc trẻ như Ajax nhưng cầu có một ông bạn già như Nestor. Há chẳng phải Cicéron đã nói rằng: “Những việc lớn ở đời sở dĩ mà thành tựu được không phải do sức khoẻ và sự nhanh nhẹn, nhưng chính là vì lời khuyên răn, quyền hành và sự chín chắn khôn ngoan mà tuổi già rất phong phú đó ru!”

Phương Đông ta, những thí dụ về tuổi già đắc dụng, kể rất nhiều. Ta thường thấy họ dự vào việc phụ chính, việc dìu dắt quốc dân, bởi vì trong một xã hội đã lâu không thay đổi thì sự kinh nghiệm là một thứ rất quý. Người Anh Cát Lợi, cũng vậy, bao giờ cũng nghĩ đến các bậc tiền bối: họ cai trị bằng thói tục và sự niên cao tuổi tác thường bảo đảm cho đức hạnh. Nhất là nước Tàu từ xưa đến nay bao giờ cũng kính trọng những người già cả. Sách há chả vẫn chép rằng người Tàu không muốn trông thấy một con ngựa già lông rụng phải chở hành lý nặng quá đi ngoài đường? Đạo làm người, trọng nhất là trunghiếu. Con phải hiếu với bố mẹ, cha mẹ còn thì không được đi đâu xa. Bất hiếu là những kẻ nào lúc cha mẹ già cả nằm xuống mà không có mặt để hầu cận. Từ gia đình đến xã hội, mỗi khi có cuộc hội họp, chỉ người già mới được lên tiếng; con cái phải nuôi dưỡng bố mẹ, để cho bố mẹ giận thì khóc mà hối hận.

Sách Nhị thập tứ hiếu chả có những lời khuyên tha thiết phải phụng dưỡng cha mẹ già yếu đấy ư?

“Mùa hè, phải quạt cho cha mẹ mát, đuổi ruồi và đánh muỗi. Mùa đông, phận làm con phải chăm nom săn sóc giường màn cho bố mẹ, lò than được hồng luôn; phải xem kẽ liếp mạch dừng cho cha mẹ lúc nào cũng vui sướng và yên ổn”.

Nước ta, không đến nỗi mọi rợ, nên mỗi một mùa xuân, không đem giết người già đi như những dân tộc ở vùng bể miền Nam. Nhưng biết kính trọng người già thì thực quả cũng không bằng được dân Tàu và những nước văn minh miền Tây Âu vậy.

Mỗi khi xuân đến, ta chỉ nghĩ đến bọn trẻ thôi, không bao giờ nói đến người già, cho người già là những cái máy cũ, hỏng rồi và do đó suy ra rằng: mùa xuân là mùa của ái tình; ái tình chỉ thanh niên mới có: vậy nói đến mùa xuân mà lại nói đến người già thì mâu thuẫn và trào phúng quá.

Sự thực, giời có bao giờ cấm những người già yếu thương yêu không? Có phải thật mùa xuân, mùa ái tình, thì người già không nên hưởng không? Không. Một cặp vợ chồng già yêu nhau cùng vui hưởng cảnh xuân không có gì là buồn cười cả. Họ chỉ hiểu nhau hơn, yêu nhau thành thực hơn và họ tiếp tục cái yêu mà họ đã yêu thời trẻ. Sự trìu mến, sự thương cảm, sự luyến ái không bao giờ có tuổi. Hơn thế nữa, nhiều khi những mối tình trải qua một thời sóng gió không được hoàn toàn khoảng ngày xanh, về già thường đượm vẻ trong sạch hơn, nghiêm trang mà dịu ngọt hơn. Lòng già lạnh đi rồi, những sự lầm nhau về xác thịt cũng trôi theo; lòng ghen chết đi với tuổi xanh; sự cuồng mạnh cũng bớt đi cùng sức khoẻ. Với hai cái thiếu thời sóng gió còn sót lại, người ta có thể tạo nên hai cái già đáng yêu. Đời sống ái tình của một cặp vợ chồng già nhắc ta nhớ đến những khúc sông dài, ở chỗ phát nguyên thì mãnh liệt là thế, điên cuồng và thay đổi là thế, mà đến gần bể thì thong thả và trong suốt, dịu dàng và đìu hiu phản chiếu bóng dương liễu trên bờ và ánh giăng sao trên tít từng không thăm thẳm.

Bảo rằng tuổi già không biết yêu nữa là nhầm. Mùa xuân là mùa của thanh niên đã đành, nhưng cũng là mùa của những lứa đôi móm mém nữa bởi vì những cái ái tình của người già cũng có thể cảm động và thành thực như những cái ái tình của thanh niên.  Những cái tình già có sự trong sạch hoàn toàn của tình bạn, sự lo sợ thiết tha và êm ái của tình trai gái. Victor Hugo đã từng cho ta thấy rằng ông cảm động vô cùng khi được trông thấy bà Récamier đã loà ở bên cạnh ông de Chateaubriand bán thân bất toại.

“Hàng ngày, vào hồi ba giờ chiều, người ta cho ông Chateaubriand đến giường bà Récamier. Thật là cảm động. Người đàn bà đẹp, bây giờ không còn nhìn được nữa rồi, lấy tay dờ người đàn ông liệt bại, và hai bàn tay họ gặp nhau! Trời xét soi cho họ! Họ sắp chết đến nơi rồi mà họ vẫn còn yêu nhau”.

Sự trung thành tiết liệt coi khinh cái già. Chiều chiều, ông Disralei lê cái thân tàn đi để gặp vợ là bà Bradford và hai ông bà nói hết cả những chuyện gần xa không biết chán. Thật thế: có những cuộc ân tình mà ta thường tưởng tượng rằng đã chết hẳn rồi, ấy thế mà tự nhiên, giữa lúc không ai ngờ nhất, lại bùng lửa lên cũng như những cái củi ai cũng tưởng đã tắt lại loè ánh sáng và reo lên trong lò.

Bài Cầm giả dẫn của Nguyễn Du vẽ cho ta thấy một cái tình già rất đẹp, nên thơ hơn cả những cái tình trẻ nữa, giữa cụ và một người hồng phấn hay đàn cầm.

Cô đầu trong tiệc hát chơi,

Trẻ thơ mấy ả mày ngài mặt hoa.

Mà cụ Nguyễn không để ý đến ai hết, chỉ ngây ngất vì:

Cuối tiệc có một bà già cả

Hình gầy mòn đầu nửa hoa râm.

Nét mày son phấn biếng chăm

Ai hay là chính chị Cầm ngày xưa

Hát mấy khúc thầm đưa giọt lệ

Tai lắng nghe, dạ tẻ ngẩn ngơ

Cuộc vui sực nhớ ngày xưa,

Bên hồ từng đã bao giờ gặp nhau (1).

Gần đây, bài thơ Tình già của ông Phan Khôi vẽ lại một cái tình giữa đôi người đầu bạc, thử hỏi tình của khách đầu xanh đã đẹp bằng chưa?

Hai mươi bốn năm sau

Tình cờ đất khách gặp nhau

Đôi cái đầu đều bạc…

Liếc đưa nhau đi rồi,

Con mắt còn có đuôi!

Nói cho cùng thì một cuộc ân tình có phải chỉ do những tình cảm của trai gái tạo ra đâu! Cái tình của người già về mùa xuân lại còn phong phú hơn cả của những người trẻ tuổi nữa. Nhân tiết xuân đầm ấm, cả nhà xum họp, người già còn thấy nở ra ở trong lòng một cái tình thơm đẹp hơn: ấy là cái tình thương yêu con cháu, mà cái tình đó đủ để làm kín cuộc đời thừa của họ. Còn gì sung sướng hơn là ngày xuân ngày tết, trong khói thơm của trầm, dưới ánh sáng lay động của đèn nến, người cha già được thấy cậu con trai hay cô con gái đi làm ăn xa về xum họp trong mấy ngày ở dưới bóng thông huyên. Nghĩ rằng ngày trước mình cũng đã từng sống một cách hoạt động như thế, mình cũng đã từng trải con đường đời như thế rồi, còn gì hứng khởi và nên thơ bằng! Ta chung hưởng cái hạnh phúc của họ, ta đau khổ cái đau khổ của họ và ta hoà mình vào với cuộc chiến đấu của họ. Ngày trước ta đã chơi cuộc chơi đó rồi, bây giờ ta không thể nào đứng ở ngoài vòng được. Thấy chúng sung sướng với nhau, vui vẻ với nhau, ta khỏi nào cũng thấy lòng ta sung sướng và vui vẻ lây vì chúng?

Sau khi xem thấy ở rạp xiếc những trò vui lạ thích mắt, cái sướng của người ta chẳng phải là dắt con cháu cho chúng đi xem lần thứ nhất đó chăng? Sau khi đã ngâm ngợi những vần thơ hay và làm bạn với những danh bút, hạnh phúc của người ta chẳng phải là thấy con cháu cũng ham mê, khi đọc những quyển sách, bài thơ mà ta chọn cho chúng đó chăng? Và một khi tiền bạc đã hết làm cho ta say sưa bởi vì tuổi già làm cho ta không còn có thể có bất cứ sự sôi nổi gì nữa, thú vui của ta chẳng phải là thấy mắt chúng sáng ngời ở trước của cải đó chăng?

Một sợi giây thiêng liêng và bền kết chặt cha mẹ với con, nhất là ông bà với cháu bé. Cả một đời đã bận rộn lo nghĩ nhiều rồi, người già cả bây giờ dùng thời giờ để nghỉ ngơi và nghĩ đến sự nhẹ nhàng với tất cả thi vị của buổi thiếu thời. Chơi với cháu, bày đình bày chùa, rồi kể chuyện cổ tích cho cháu nghe. Ông không thể chạy nhung nhăng cùng cháu thì vẫn có thể ngả nghiêng đùa ở ngoài sân; vuốt râu pha trò; và giả vờ ngã xiêu ngã vẹo ở bên một đứa cháu mới tập đi. Những bước đi đầu tiên và những bước đi cuối cùng cũng đều một nhịp như nhau. Những bước đi đầu tiên và những bước đi cuối cùng có một giới hạn chung trong một cái vòng tròn chung. Một bên bước vào đời, một bên sắp từ giã đời: hai cái sướng đều cùng chung vậy. Bởi vậy, ông già nước ta đến bảy tám mươi vẫn vui đời. Cụ Tam nguyên Yên Đổ năm bảy mươi tư còn hào hứng ngâm rằng:

Lúc hứng đánh thêm ba chén rượu

Khi buồn ngâm láo mấy vần thơ

Cũng muốn sống thêm trăm tuổi nữa

Cuộc đời say tỉnh tôi cùng bác

Cõi thọ nghênh ngang bác với tôi

Gần đây ông Nguyễn Hữu Chu, tục kêu là Đồ Liên, cũng ngâm nên câu hay lắm:

Giờ không đời tật cũng là tiên

Nếu có các cụ già Á Đông lúc già thường thả một con thuyền đi tìm nơi nước trí non tiên để đi dưỡng tính tình thì cái số người già mắt đã loà chân đã chậm mà hãy còn đem thân ra giúp nước phò vua cũng không phải ít. Ta đã từng thấy các cụ mỗi khi gân chùng mắt kém chỉ uống rượu ngâm thơ và hội họp đôi người cố nhân lại cười ha hả những cái thiên hạ khóc và khóc tấm tức những cái thiên hạ cười, song những người già mà có tâm hồn trẻ, sống vui vẻ giữa bọn thanh niên, và hoà hợp mình vào với bọn thanh niên không hiếm. Thanh niên và các ông già lúc đó họp thành những khối bạn vong niên không ai chia rẽ được, thanh niên thì nói những ước vọng của mình cho các ông già nghe mà các ông già thì đem những sự kinh nghiệm của cả một đời mình ra kể lại cho thanh niên học.

Ở xã hội ta hiện nay những cái tình bạn như thế lại còn nhiều điều lợi hơn nữa bởi vì những người già theo Hán học mà bọn trẻ thì theo Tây học; già trẻ mà chơi với nhau, hiểu biết nhau thì hai cái học có thể dung hoà lại được mà văn minh, văn hoá của nước mình sẽ nhờ đó mà tăng tiến.

Ở xã hội Tây Âu, những người trẻ tuổi khôn ngoan không bao giờ chia rẽ già trẻ ra làm hai phái như ta vẫn thường thấy ở xã hội ta. Già trẻ thường cộng sự với nhau. Thống chế Lyautey đã bát tuần rồi mà bọn thanh niên không ngớt đến chung quanh ngài để phỏng vấn, để học hỏi, để ngài chỉ bảo cho những lý lẽ để tin tưởng và hy vọng. Ông hàn Maurois, hơn bốn mươi, vẫn cho mình là mới bắt đầu vào thời kỳ thanh niên nên hàng năm vẫn tìm về một ông già, cụ Gabriel Hanotaux, để hầu chuyện dưới một gốc cam cổ thụ. Cụ Gabriel Hanotaux thường chỉ bảo cho ông Maurois nhiều điều hay lẽ phải, và tuy đã ngót cửu tuần, cụ vẫn tỏ ra người can đảm và mạnh lắm. Mấy lời này của cụ được ông Maurois coi làm châm ngôn:

“Ông ơi, đây là mấy tư tưởng mà ông nên đem ra nhẩm mỗi khi nản chí. Tầm thường lắm nhưng bổ ích. “Cái gì cũng đến… Cái gì rồi cũng bị quên đi… Cái gì rồi cũng được xếp đặt đâu vào đấy… Chẳng ai hiểu gì vào gì cả. Nếu ở đời ai cũng biết người đời nói gì về người đời, chẳng ai sẽ nói với ai…”

Đoạn, cụ lại tiếp:

“Cần nhất, là ta không bao giờ nên sợ hãi. Kẻ thù đã làm cho ông lùi, ngay lúc đó, cũng sợ ông”.

Tuổi già xem vậy không phải là vô ích như người ta đã tưởng và chúng ta nên hiểu rằng ở trong tuổi già không phải là không có mùa xuân đâu. Cái xuân của tuổi già có khi còn ý vị hơn cả cái xuân của tuổi trẻ nữa.

Bên Mỹ, có một ông bác sĩ đã lập ra một cái trường để dạy các người già tìm ra cái xuân ở trong tuổi già lão của mình. Trường có bày ra nhiều công việc và lắm trò chơi để cho học trò tìm thấy cái thú sướng ở đời. Mỗi mùa xuân, cũng bày ra những tiệc tùng, hò hát, nhảy đầm, uống rượu. Châm ngôn của trường là “Hãy sống một thế kỷ” và trường ấy, trước khi xảy ra chiến tranh, năm 1939, có tới 909 học trò mà 300 đã móm mém, bát tuần trở lên.

Chúng tôi không muốn lấy thí dụ đó để mời những ông già ở nước ta cũng vui chơi ồ ạt như thế, nhưng bản ý chỉ muốn tỏ ra rằng: Ai mà yêu sống thì sẽ có sức khoẻ để mà sống. Và cũng để chứng tỏ rằng không phải chỉ có thanh niên mới đáng hưởng cái xuân, mùa xuân không phải là mùa của thanh niên mà thôi đâu.

Đó là mùa của tất cả các hạng người, của tất cả sinh vật trên mặt đất, miễn là người nào cũng biết cách tìm mà hưởng lộc của trời cho. Riêng với người già, muốn được hưởng cái lộc đó, người ta phải có một cái đạo sống. Đó là cái đạo già, cái nghệ thuật già mà ông Nguyễn Hữu Chu đã gói ghém trong bài đường luật dưới đây:

Già không đới tật cũng là tiên

Phải biết tu từ lúc thiếu niên

Nuôi khí tiết linh bồi đại địa

Tu tâm, luyện tính bổ tiên thiên

Trẻ phòng sinh đẻ, già phòng chết

Ăn được điều hoà, ngủ được yên

Già chẳng trót đời thiên hạ khối

Cái gương tày liếp vẫn treo bên.

Sự thực, cái đạo già, nói như thế, chưa đủ. Muốn già cho có nghệ thuật, ta còn phải biết một điều cần hơn: đó là không nên bỏ việc luyện tập thân thể sớm quá, nhất là không nên bỏ phế những vấn đề tình cảm. Quả tim cũng như thân thể cần phải cho vận động luôn luôn. Nghĩa là phải cho nó đập luôn luôn và yêu luôn luôn.

 Vậy thì hỡi các cụ, mùa xuân đến, các cụ chớ nên nói “Bọn mình già rồi, còn thiết nỗi gì; thôi, để nhường sự vui vẻ cho bọn thanh niên”. Không, các cụ nên yêu và hưởng lấy cái lộc giời, yêu nhiều, không phải yêu mãnh liệt nhưng yêu chan chứa.

Chúng tôi không dám rước các cụ hò hét như các ông học trò Bành Tổ ở bên Mỹ, mỗi khi mùa xuân đến; nhưng nên kết hợp với thanh niên mà làm việc và thưởng xuân trong phạm vi của tuổi già và chia vui với họ.

Mà thanh niên thì khá nhớ rằng mùa xuân không phải là mùa riêng của họ như các nhà văn nhà báo son trẻ đã viết lầm, hiểu lầm đâu. Mùa xuân tươi tốt làm cho lộc cây nảy nở và làm cho lòng yêu thương nảy nở. Đó là một dịp cho trẻ và già hiểu nhau hơn, yêu nhau hơn, cho trẻ tỏ cái sức mạnh của mình ra và cho già truyền lại những sự kinh nghiệm lớn và những đức cao, gương sáng.

Khi nào mà trẻ già không hiềm khích nhau nữa, biết cộng sự với nhau và đem cái thừa của phái này bù vào cái thiếu của phái kia, tạo được một đại khối bền chặt, ấy tức là lúc xã hội có xuân bốn mùa, xuân bất diệt.

                                                           VŨ BẰNG

  Trung Bắc chủ nhật, số Tết giáp thân, Hà Nội, s. 188 (30/1/1944)

 

 

 


 

(1) Bản dịch của Hoài Trân. (nguyên chú).