XÁC ĐỊNH VĂN BẢN NỀN VÀ VIỆC CHÚ THÍCH

 

         Để trình bày trước bạn đọc toàn bộ kết quả khảo sát tình trạng dị bản của tiểu thuyết Số đỏ từ khi được đăng báo lần đầu (1936-37) đến khi được đưa vào một bộ tuyển của tác giả (1987), người khảo sát phải lấy một trong các bản Số đỏ đã in ra trong thời gian ấy làm nền. Trong số 7/8 văn bản hiện có để có thể đối chiếu so sánh tìm dị bản, nên lấy bản nào làm bản nền?

         Thông thường, người ta sẽ khuyên nên chọn một trong số các văn bản được in ngay trong sinh thời tác giả, tức là chọn văn bản nào được in với sự tham dự hoặc sự chấp nhận trực tiếp của tác giả.

Ta biết, Số đỏ được đăng báo từ đầu tháng 10/1936 đến giữa tháng 1/1937 thì bị dừng lại khi còn thiếu 4 chương cuối, do tờ Hà Nội Báo bị đóng cửa. Năm 1938 toàn bộ 20 chương truyện được in thành sách riêng. Tháng 10/1939 tác giả qua đời.

 

Vậy là ngay trong sinh thời tác giả Vũ Trọng Phụng đã có 2 văn bản in Số đỏ.

Tiếc rằng bản in thành sách riêng do nhà in Lê Cường thực hiện năm 1938 lại đang ở trong tình trạng mất văn bản, chưa tìm lại được. Đây lẽ ra là bản cần được dùng gần như văn bản chuẩn mực, vì nó là 1 trong 2 văn bản của Số đỏ xuất hiện khi tác giả còn sống, lại là văn bản in sách, có đầy đủ 20 chương truyện, tức là có toàn bộ văn bản tác phẩm.

Chính do thiếu bản in sách lần đầu này nên công việc khảo dị Số đỏ của tôi đã tạm ngừng lại từ nhiều năm trước.  (1) (1)

 

Bản Số đỏ đăng Hà Nội Báo hiện còn lại thiếu 4 chương cuối truyện. Nếu chọn bản đăng Hà Nội Báo thì sẽ xử lý ra sao đối với 4 chương cuối ấy? Nếu lấy một bản khác thay thế những phần thiếu ấy thì như vậy sẽ tạo ra một sự lắp ráp, chắp vá khó chấp nhận.

Vậy là không thể có được hoàn chỉnh một văn bản Số đỏ vốn được in ngay trong sinh thời tác giả để làm bản nền cho việc khảo sát dị bản.

Đành phải chọn làm bản nền một trong số những bản in sau khi tác giả đã mất, tức là trong số những bản in không có sự tham dự hoặc sự chấp nhận trực tiếp của tác giả.

 

Trong số những bản Số đỏ được in ra từ sau khi tác giả Vũ Trọng Phụng mất (13.10.1939), tôi chọn làm bản nền bản sách Số đỏ do nhà xuất bản Minh Đức in năm 1946 tại Hà Nội.

Đây là bản in gần nhất so với hai bản in đương thời tác giả Vũ Trọng Phụng kể trên. Vì vậy, khả năng sai biệt so với hai bản in đầu có thể là được hạn chế ở mức thấp. Các hoạt động của nhà xuất bản Minh Đức xung quanh việc in lại tác phẩm này vào năm 1946 − cũng như vào năm 1957 về sau − cho thấy họ không chỉ thể hiện sự trân trọng rõ rệt đối với di sản ngòi bút của nhà văn, mà đồng thời còn quan tâm đến lợi ích của thân nhân tác giả. Dù người ta không ghi nhận việc thân nhân nhà văn quá cố có can dự hay đề xuất yêu cầu gì đối với nhà xuất bản xung quanh việc in lại tác phẩm của nhà văn, thì hoạt động của nhà Minh Đức cũng cho thấy những người có quyền thừa kế di sản của nhà văn Vũ Trọng Phụng đã có can dự ít nhiều vào việc in lại tác phẩm, điều mà hầu như khó thấy hơn khi nhà Mai Lĩnh thực hiện in lại tác phẩm này. Tất nhiên ta không thể từ thái độ của nhà xuất bản để đặt niềm tin vào chất lượng ấn phẩm; điều có thể thấy rõ ở đây là sự nghiêm túc của nhà xuất bản trong sự tiếp cận di sản sáng tác của tác giả, chính nó hứa hẹn một sự nghiêm túc trong xử lý văn bản in. 

 

Tất nhiên, việc chọn bản nào làm “nền” để khảo sát tình trạng dị bản nảy sinh ra sao trong quá trình truyền bản của một tác phẩm, không có nghĩa là xem bản nền ấy như một văn bản “lý tưởng”.

Khi thực hiện khảo sát tình trạng dị bản ở tiểu thuyết Giông tố, (4)  tôi đã hợp nhất hai loại công việc: một là hiệu chỉnh từ bản đăng báo đầu tiên và bản in sách đầu tiên để có một văn bản hợp lý cung cấp cho độc giả phổ thông, và hai là khảo sát tình trạng dị bản qua một số bản in quan trọng. Chính việc người nghiên cứu sử dụng bản do chính mình hiệu chỉnh đồng thời làm bản nền để thể hiện sự khảo sát dị bản, – đã khiến một số đồng nghiệp kỹ tính cho là người nghiên cứu đã hướng tới “văn bản lý tưởng”,[5] một dấu hiệu khiếm khuyết về phương pháp khảo sát tình trạng dị bản. 

 

Lần này, đối với tiểu thuyết Số đỏ, tôi hoàn toàn không đặt vấn đề hiệu chỉnh văn bản trong phạm vi khảo sát tình trạng dị bản. Đấy dù sao cũng là một công việc đáng làm, song nó sẽ là một công việc có thể tiến hành độc lập, gắn với việc đưa ra cho công chúng phổ thông một bản hiệu chỉnh hợp lý.[6] Còn trong việc khảo sát dị bản ở đây, tôi sẽ chọn một bản in cụ thể đã từng có từ trước, làm bản nền.

Dù chọn bản nào, như ta sẽ thấy, cũng không gây ảnh hưởng gì đáng kể đến kết quả khảo sát.

Trên thực tế, hoạt động tái bản – in lại tác phẩm đã từng được in – bao giờ cũng làm phát sinh dị bản, tức là phát sinh những sự sai biệt mới, so với những văn bản đã từng in ra trước đó. Có những dị biệt phát sinh do chủ ý của con người, ví dụ tác giả, nhà xuất bản chủ ý thay đổi câu chữ, do tự thấy cần thay đổi hoặc do bị áp lực phải thay đổi (chẳng hạn, áp lực từ kiểm duyệt, hoặc do biên tập nhà xuất bản phát hiện ra những chỗ sơ suất ở bản in trước). Lại có những dị biệt phát sinh hầu như do ngẫu nhiên, cũng từ bàn tay con người, ví dụ do sơ ý của người sắp chữ, do sơ suất của người sửa in, v.v…, những sơ suất đã trở nên một phần của công việc xuất bản sách, dù ở bất kỳ đâu, bất kỳ thời nào; người ta chỉ có thể hạn chế được chúng chứ không bao giờ loại trừ được chúng khỏi hoạt động làm sách.

Cần lưu ý là tất cả các bản in được dùng vào khảo sát tình trạng văn bản tiểu thuyết Số đỏ đều là sản phẩm của máy in typo với các khuôn in được sắp chữ từ những con chữ chì, – tức là kỹ thuật in phương Tây du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX. Quy trình in sản phẩm sách báo kiểu này thường trải qua các sản phẩm trung gian:

–  Bản thảo dùng để sắp chữ: tác phẩm in lần đầu thường dùng chính bản viết tay của tác giả; tác phẩm in lại thường dùng một bản in cũ; tất nhiên bản thảo đưa sắp chữ phải là bản thảo đã được duyệt bởi chủ xuất bản;

–  Các bản rập thử (épreuves, còn gọi là bản vỗ): là bản rập ra từ các khuôn chữ, sắp chữ rồi rập thử ra giấy để dễ thấy các chỗ sai, sửa rồi lại rập thử; rập ra sửa lại nhiều lần (ít nhất từ hai đến ba lần), cho đến khi được coi là sửa xong, bản rập lần cuối, xem như bản chính thức, được gửi đi kiểm duyệt; khi có kết quả kiểm duyệt đưa về, các khuôn chữ được sửa lại lần cuối (thường đục bỏ những chỗ bị kiểm duyệt xóa),

–  Bản in: bản in hàng loạt từ các khuôn chữ kể trên (theo số lượng in đã định), sau đó sẽ được đưa đi đóng, xén, vào bìa, thành sách.

 

Những sai biệt gây ra tình trạng dị bản có thể phát sinh từ hầu hết các khâu. Bản thảo của tác giả có thể có những sai sót về chữ về câu. Các bản in cũ dùng làm bản thảo cho các lần in lại cũng vậy. Thợ sắp chữ có thể gây ra sai biệt do sắp thiếu, thừa, sai lệch so với bản thảo. Thợ sửa in có thể gây ra sai biệt khi không phát hiện ra những sai sót của thợ sắp chữ, hoặc sơ suất làm sai lệch so với bản thảo. Trong quá trình in, các khuôn chữ bị rung lắc có thể gây hiện tượng rơi chữ khỏi khuôn in, bản in bị mất một số chữ; có khi thợ đứng máy in vuốt những chữ bị rơi chèn lại vào khuôn chữ đang vận hành, khiến chữ nọ sẽ thế vào vị trí chữ kia…

Tóm lại, đây là sách in trên kiểu máy in chữ rời, vận hành nửa máy móc nửa thủ công, thuộc một hệ thống thiết bị kỹ thuật mà hiện nay đã bị thay thế (nếu còn thì chỉ còn trong bảo tàng).

Từ những năm 1990 trở đi, các thiết bị kỹ thuật in mới được nhập vào Việt Nam; phổ biến nhất để in sách báo là công nghệ in offsett, ngoài ra còn các loại in nổi, in lụa, in quay, in phun, in laser. Các công nghệ này đều gắn với cách chế bản trên máy điện toán; khá nhiều tác giả chuyển sang viết trên máy tính, gửi bản thảo tới nhà xuất bản theo đường thư điện tử (e-mail). Giao dịch xung quanh những sửa đổi trên văn bản giữa người biên tập và tác giả cũng chủ yếu thông qua thư điện tử. Trong các điều kiện ấy, tình trạng dị bản liệu có còn tồn tại và sẽ diễn ra như thế nào trong sách xuất bản?

Tôi nghĩ là dị bản, tức là sự khác biệt trong văn bản giữa những lần in khác nhau của cùng một tác phẩm, sẽ vẫn luôn luôn tồn tại trong sách in bằng các công nghệ mới. Bởi nguồn gốc nảy sinh dị bản ở đấy vẫn là từ bên trong hoạt động sáng tạo, hoạt động viết của con người, lại cũng từ sự can dự của những người khác (nhà xuất bản, biên tập viên, viên chức đọc duyệt, v.v…) vào quá trình nhân bản một tác phẩm, biến nó từ chỗ là một bản viết của tác giả thành sản phẩm in hàng loạt.

 

Rất khó giữ được văn bản cố định, đứng yên. Những tác giả còn sống rất ít khi chịu giữ nguyên “một lần cho mãi mãi” đối với tác phẩm cũ khi có dịp in lại. Những tác phẩm cũ của tác giả quá cố cũng rất khó được giữ nguyên “một lần cho mãi mãi” bởi hàng loạt yếu tố con người tác động và chi phối vào mỗi lần in.

 

Điều vừa nói trên cũng cho thấy, cả trong thực tiễn xuất bản nói chung lẫn trong công việc tái bản sách đều phải quan tâm xử lý các vấn đề về văn bản. Một ngành nghiên cứu lịch sử văn học nghiêm túc không thể bỏ qua lĩnh vực nghiên cứu văn bản học. Một ngành xuất bản phát triển tiên tiến không thể bỏ qua phương diện văn bản, nhất là trong việc in lại những tác phẩm cũ, đã từng in ra trước đây; không thể và không nên bằng lòng với việc sử dụng những bản in trôi nổi, như tình trạng lâu nay.

 

Sau cùng, về việc làm chú thích cho văn bản, đây là công việc gần như không thể tránh, tuy không phải là nhiệm vụ chính của một công trình khảo sát tình trạng dị bản một tác phẩm ngôn từ. Tôi sẽ chỉ tiến hành làm chú thích cho các từ hơi khó đối với độc giả rộng rãi, chẳng hạn những từ vay mượn hoặc nhại lại tiếng nước ngoài, những danh từ riêng ít phổ biến, những từ một thời được dùng như tiếng lóng, một số tên riêng, v.v… Tất nhiên nguồn hiểu biết để giải thích đều trông chờ vào các từ điển hoặc sách chỉ dẫn có liên quan. Nếu trong các nguồn ấy không có lời giải cho những từ ngữ cần được giải thích, tôi đành ghi chú để ngỏ (ví dụ đối với từ “lộ bộ” ở chương VII), mong được sự chỉ dẫn của những bạn đọc, bạn nghiên cứu có am hiểu, để có thể bổ sung trong một lần in về sau.

Trên văn bản tác phẩm, những chỗ có dị biệt về văn bản sẽ đánh dấu bằng số Arab (1, 2,3…) để thống kê ở phần Khảo dị; những chỗ cần chú thích sẽ đánh dấu bằng chữ cái a,b,c… trong ngoặc vuông [a,b,c…] để giải thích ở phần Chú thích.

 

Hà Nội, tháng Năm 2014

LẠI NGUYÊN ÂN 

Chú thích

 (1) Xem: Lại Nguyên Ân (2011): Phương diện văn bản của tiểu thuyết “Số đỏ”. Hà Nội, Nghiên cứu văn học, s. 3 (tháng 3) 2011, tr. 90-99.      

(2) Xem: Lại Nguyên Ân (2007): Nghiên cứu văn bản tiểu thuyết “Giông tố”. Hà Nội: Nxb. Tri Thức, 2007.

(3) Xem: Hồ sơ Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh (2010): Trích lời tuyên dương của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh về Quyết định trao giải Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh 2010: Giải thưởng nghiên cứu: nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân.

(4) Việc này tôi đã thực hiện trong bản in tiểu thuyết Số đỏ, thuộc tủ sách “Việt Nam danh tác” do Cty VH-TT Nhã Nam và Nxb. Hội Nhà Văn xuất bản năm 2014; trong ấn phẩm ấy, văn bản Số đỏ được tôi hiệu chỉnh dựa theo bản đăng Hà Nội Báo 1936-37 và các bản in Số đỏ của Nxb. Minh Đức (Hà Nội 1946, 1957) và Nxb. Mai Lĩnh (Hà Nội, 1951) 


 


(3) Xem: Lại Nguyên Ân (2011): Phương diện văn bản của tiểu thuyết “Số đỏ”. Hà Nội, Nghiên cứu văn học, s. 3 (tháng 3) 2011, tr. 90-99. 

(1) Xem: Lại Nguyên Ân (2007): Nghiên cứu văn bản tiểu thuyết “Giông tố”. Hà Nội: Nxb. Tri Thức, 2007.

(2) Xem: Hồ sơ Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh (2010): Trích lời tuyên dương của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh về Quyết định trao giải Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh 2010: Giải thưởng nghiên cứu: nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân.

(3) Việc này tôi đã thực hiện trong bản in tiểu thuyết Số đỏ, thuộc tủ sách “Việt Nam danh tác” do Cty VH-TT Nhã Nam và Nxb. Hội Nhà Văn xuất bản năm 2014; trong ấn phẩm ấy, văn bản Số đỏ được tôi hiệu chỉnh dựa theo bản đăng Hà Nội Báo 1936-37 và các bản in Số đỏ của Nxb. Minh Đức (Hà Nội 1946, 1957) và Nxb. Mai Lĩnh (Hà Nội, 1951)