TIỂU DẪN 

VỀ SƯU TẬP CÁC TÁC PHẨM CỦA PHAN KHÔI
ĐĂNG BÁO NĂM 1929

 

 

Toàn bộ các bài báo tôi sưu tầm được và đưa in lại dưới đây là những bài Phan Khôi cho đăng trên các nhật báo Thần chung, Trung lập và tuần báo Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn trong năm 1929.

Xin dẫn giải chút ít về các tờ báo này và sự tham gia của ngòi bút Phan Khôi trên báo đó.

1) Thần chung, về nhiều mặt, là sự tiếp tục của tờ Đông Pháp thời báo (1923-1928). Người ta biết rằng sau khi mua lại từ tay Nguyễn Kim Đính (từ tháng 10.1927), Diệp Văn Kỳ và các cộng sự đã chuyển Đông Pháp thời báo theo hướng một tờ báo đối lập và Đông Pháp thời báo đã trở thành tờ báo có rất đông bạn đọc. Hơn một năm sau, lúc đã xin được giấy phép xuất bản một tờ báo mới mang tên Thần chung, Diệp Văn Kỳ bèn chấm dứt tờ Đông Pháp thời báo vào ngày 22.12.1928 (số 809), để, hai tuần sau, với hầu như nguyên vẹn Ban biên tập cũ của Đông Pháp thời báo, ngay tại tòa soạn cũ của báo này ở góc đường Filippini và Espagne, Sài Gòn, vào ngày 7.1.1929, Thần chung ra mắt số 1. Độc giả đương thời có thể cảm thấy rõ việc Đông Pháp thời báo được đổi tên thành Thần chung qua những điều rất cụ thể, chẳng hạn khuôn khổ tờ báo, nội dung các trang, bài quảng cáo, các truyện đăng nhiều kỳ Đảng X., Nặng vì tình vẫn được đăng tiếp ở đây.

Thần chung (từ gốc Hán : thần - buổi sáng, buổi sớm mai; chung - tiếng chuông; báo cũng có tên bằng tiếng Pháp là La Cloche du Matin - tiếng chuông buổi sáng) là nhật báo xuất bản mỗi buổi sáng các ngày thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy ; mỗi kỳ báo gồm từ 4 đến 6 trang khổ lớn (65 x 40 cm) ; theo quy cách thông thường của báo chí đương thời, các tin tức thời sự, các bài mục thực sự mang tính báo chí chỉ chiếm toàn bộ trang 1 (trang đầu) và phần lớn trang 2 (trang cuối); còn lại, các trang ruột (từ trang 6 hoặc 4 trở về trang 3) đều dành đăng quảng cáo xen kẽ với truyện nhiều kỳ(1).

Thần chung có một bộ biên tập gồm những nhà báo xuất sắc. Chủ nhiệm là Diệp Văn Kỳ, chủ bút là Nguyễn Văn Bá (nguyên giáo sư Cao đẳng sư phạm, từng làm báo An Nam của Phan Văn Trường) ; các trợ bút trong bộ biên tập đều là những cây bút tên tuổi : Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Bùi Thế Mỹ, Phan Văn Hùm(2). Về mặt kỹ thuật, đây là tờ báo có sự quản lý và tổ chức quy củ, với một “bộ biên tập gồm những người có năng lực, phân công rõ rệt, với nhiều cộng sự viên xứng đáng và một ban giám đốc có tinh thần khoa học, trong khi các nhật báo khác còn hoạt động trong tình trạng luộm thuộm, tiểu công nghệ và chỉ huy theo tinh thần gia đình” (Huỳnh Văn Tòng : Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945. Tp. HCM : 2000, tr.211-212). Xu hướng chính trị của Thần chung là “tinh thần chống chính quyền thực dân” cùng với một “ý thức quốc gia dân tộc biểu lộ quá rõ rệt” (Huỳnh Văn Tòng : sđd). Đây là điều được giải thích như lý do sâu xa khiến tờ báo này sớm bị đóng cửa, theo nghị định ngày 22.3.1930 của Toàn quyền Đông Dương(3).

Tính ra Thần chung có mặt liên tục trong 15 tháng; số cuối ra ngày chủ nhật 23 và thứ hai 24 Mars 1930 đánh số 344 nhưng theo thống kê của tôi, Thần chung ra được cả thảy 346 kỳ (4).

Ngòi bút Phan Khôi dự vào Thần chung ngay từ số đầu và hầu như cho đến số cuối. Trước hết là ở mục Câu chuyện hằng ngày. Tất nhiên, như đã được khởi từ Đông Pháp thời báo, bút danh Tân Việt ở Câu chuyện hằng ngày thuộc về cả ông Khôi lẫn ông Kỳ và đến Thần chung, bút danh này hình như có lúc còn được chia sẻ bởi ông Bá nữa. Tân Việt có lúc viết rằng mình là “tam vị nhất thể” : là chủ nhiệm, là chủ bút và là trợ bút, - hẳn ám chỉ tình trạng đeo chung “mặt nạ văn học”(5) này. Nhưng thường thì chủ nhiệm và chủ bút phải đảm trách những bài bình luận thời sự chính trị dài, ký tên riêng hoặc tên tờ báo, cho nên có lẽ trợ bút Phan Khôi vẫn là tay viết chính cho Câu chuyện hằng ngày, và là tay bút có những nét quyết định phác họa diện mạo ký giả Tân Việt. Vài năm sau trên một tờ báo khác, ông Kỳ và nhÊt lµ ông Bá đã thử làm sống lại bút danh Tân Việt và “Câu chuyện hằng ngày” nhưng dư luận Sài Gòn thấy ngay nó nhạt và yếu, thua xa thời Đông Pháp thời báo Thần chung.Vậy là, dù bút danh Tân Việt không chỉ là của Phan Khôi, nhưng thiếu Phan Khôi, bút danh Tân Việt cũng không sống nổi.

Trên Thần chung Phan Khôi có đôi bài ký Chương Dân, C.D., nhưng đáng chú ý là bút danh Khải Minh Tử, vốn được ông dùng khi viết bài đăng Quần báo chữ Hán của Hoa kiều ở Chợ Lớn. Ông cũng ký họ tên thật Phan Khôi trên Thần chung (từ tháng 10.1929, với bài luận kéo dài 21 kỳ về ảnh hưởng của Khổng giáo ở Việt Nam), nhưng muộn hơn khá lâu sau khi đã ký họ tên thật của mình trên Phụ nữ tân văn (từ tháng 5.1929).

Có lẽ hoạt động của ngòi bút Phan Khôi trên Thần chung không chỉ giới hạn ở những bài có bút danh xác định kể trên. Ở một số bài không ký tác giả, tôi đã thấy những chi tiết cho biết nó là do Phan Khôi viết. Loại bài “đáng ngờ” như vậy (không ký tên tác giả hoặc ký “Thần chung”) hẳn không ít. Vả lại, còn có những công việc của tòa soạn mà chắc hẳn Phan Khôi có tham dự, nhưng không thể kể như bài viết riêng, ví dụ xung quanh việc Thần chung tổ chức cuộc thi về quốc sử(6). Nhìn vào 30 bản tóm tắt sự tích và công trạng 30 nhân vật trong sử Việt mà Thần chung lần lượt đăng tải để dùng làm đề cho độc giả dự thi lựa chọn, có thể dự đoán về sự tham dự soạn thảo của những trợ bút thạo về sử như Đào Trinh Nhất, Phan Khôi, v.v.

2) Phụ nữ tân văn là tuần báo xuất bản vào ngày thứ năm hằng tuần; số 1 ra ngày 2.5.1929; số cuối, số 273, ra ngày 21.4.1935 ; mỗi số khoảng 32 trang 21 x 29 cm. Người sáng lập là bà Nguyễn Đức Nhuận (bà Cao Thị Khanh) ; đứng tên chủ nhiệm là ông Nguyễn Đức Nhuận ; chủ bút một thời gian dài là nhà báo Đào Trinh Nhất(7) ; tòa soạn và trị sự đặt ở nhà số 42, phố Catinat, Sài Gòn. Cuối năm 1930, sau số 82, báo bị chính quyền thuộc địa buộc phải đình bản(8); 5 tháng sau mới ra tiếp từ số 83 (21.5.1930). Có một thời gian ngắn, từ 3.6.1932 (số 133) đến 2.7.1932 (số 157), bên cạnh các số thường (dày trang, ra ngày thứ năm), Phụ nữ tân văn còn ra báo hàng ngày, mỗi số gồm 4 trang khổ lớn. Mục đích ra hàng ngày này được tòa soạn giải thích là để đáp lại những luồng dư luận không công bằng xung quanh Hội chợ phụ nữ do báo PNTV và hội Dục Anh Sài Gòn đồng tổ chức (tháng 5.1932).

Cuối năm 1934 dường như có một kế hoạch thay đổi tờ báo, với sự tham gia về biên tập và về quản trị của Hồ Văn Hảo (một cây bút thơ nổi lên ở phía Nam thời đầu phong trào thơ mới), nhưng báo cũng chấm dứt ở số 273 (21.4.1935)(9)

Về chính trị, Phụ nữ tân văn giữ thái độ tương đối ôn hòa. Về xã hội, báo cổ động cho việc cải cách một số phong tục, tập quán, nếp sống liên quan đến người phụ nữ, đến hôn nhân và gia đình. Ngoài việc làm báo, PNTV còn tổ chức lập học bổng tài trợ cho học sinh nghèo sang Pháp du học, lập ký nhi viện, triển lãm nữ công, lập quán ăn cho dân lao động và dân thất nghiệp. Nói chung, một đường lối duy tân cải lương ôn hòa được thể hiện rõ rệt ở Phụ nữ tân văn. Đây là một trường hợp thành công khá ấn tượng trong đời sống báo chí đương thời.

Phụ nữ tân văn là con đẻ của hậu duệ phong trào duy tân”, ngoài ra “còn chịu ảnh hưởng sự biến đổi của văn học và báo chí Trung Quốc sau Ngũ Tứ vận động” (Nguyễn Văn Xuân : Lời giới thiệu bản tái bản Chương Dân thi thoại. Đà Nẵng : 1998).

Phan Khôi là một trong những người cộng tác đắc lực với Phụ nữ tân văn. Hàng trăm bài báo của ông đã đăng trên các số của tuần báo này trong các năm 1929, 1930, 1931, 1932. Năm 1933 ông ra Hà Nội làm báo Phụ nữ thời đàm ; cho đến cuối năm 1934 ông lại liên tục có bài đăng Phụ nữ tân văn các số cuối cùng. Chính trên PNTV đã diễn ra các cuộc tranh luận về Nho giáo, về quốc học, về việc dùng chữ quốc ngữ, trong đó Phan Khôi thường là cây bút châm ngòi. Chính trên PNTV, Phan Khôi đã thử “vai ngự sử trên đàn văn”. Chính từ PNTV đã khai mở phong trào thơ mới, - một phong trào cải cách thơ ca gây chấn động đời sống văn học thế kỷ XX.

Trên các sưu tập báo Phụ nữ tân văn có thể tìm bài vở lớn nhỏ của Phan Khôi căn cứ vào các bút danh xuất phát từ họ tên thật và tên hiệu của ông. Đó là : Phan Khôi, Ph.Kh., P.K., K., Chương Dân, C.D., C., D.; cũng có những bài ông viết và ký tên báo (Phụ nữ tân văn, P.N.T.V.), và có lẽ còn một số bài vở khác nữa mà ta có thể ngờ là thuộc ngòi bút Phan Khôi, chẳng hạn các bài ngắn trong mục “ý kiến chúng tôi đối với vấn đề thời sự”.

3) Về nhật báo Trung lập, tuy báo này có đăng bài của Phan Khôi từ 1929, nhưng đều là đăng lại của hai tờ báo trên. Chỉ từ giữa năm 1930 ngòi bút ông mới thực sự hoạt động trên tờ báo này.

 

*

 

Các nguồn tư liệu chính tôi đã sử dụng để rút ra từ đó văn bản các tác phẩm của Phan Khôi là :

Sưu tập Thần chung lưu ở Thư viện quốc gia Việt Nam (Hà Nội) ký hiệu J51 ; sưu tập này thiếu khoảng trên 60 kỳ báo Thần chung. Những bài vở cần thiết ở những số thiếu đó, tôi đã nhờ nhà báo Thụy Khuê ở Paris chụp giúp từ bản vi phim (microfilm) Thần chung ở Thư viện quốc gia Pháp.

Sưu tập Phụ nữ tân văn : tôi đọc và chụp các bài vở cần thiết từ bản vi phim (microfilm) Phụ nữ tân văn ở Thư viện đại học Berkeley, California, Hoa Kỳ. Đây là bản chụp sưu tập báo này lưu ở Thư viện quốc gia Pháp do ACRPP (Association pour la conservation et la reproduction photographique de la presse, - Hiệp hội bảo quản và tái chế ảnh báo chí) ở số 4, rue de Louvoir, Paris (Pháp) chụp, in tráng và phát hành.

Trong việc tiếp cận và khai thác sưu tập Thần chung, một sưu tập đã trở nên quý và hiếm, tôi đã được sự giúp đỡ tận tình của cán bộ nhân viên Thư viện quốc gia Việt Nam (Hà Nội). Để tiếp cận khai thác các bản vi phim Phụ nữ tân văn và một số tư liệu khác tại Thư viện đại học Berkeley, tôi đã được sự giúp đỡ của khoa sử đại học Berkeley, của Tiến sĩ Peter Zinoman và Nguyễn Nguyệt Cầm. Nhân đây tôi xin có lời cảm ơn.

Như đã nói ở tiểu dẫn tập Tác phẩm đăng báo 1928 của Phan Khôi, tôi không in lại vào đây những bài đăng trong mục Nam âm thi thoại Phụ nữ tân văn, vì đã được tác giả đưa vào sách Chương Dân thi thoại (1936) mà Nxb. Đà Nẵng đã tái bản năm 1998.

Bên cạnh văn bản các tác phẩm của Phan Khôi, tôi cho in, với tính cách là “phụ lục” một vài bài báo có liên quan của tác giả khác.

Những tác phẩm ngờ là có thể thuộc ngòi bút Phan Khôi nhưng còn thiếu chứng cứ đích xác, tôi cho in riêng vào cuối sách trong mục tồn nghi.

Về văn bản, sưu tập này chú ý tôn trọng cách viết cách in chữ Việt đương thời của sách báo Sài Gòn vốn mang đậm dấu ấn phương ngữ Nam Kỳ. Những chữ ngờ là in sai, tôi sửa lại và có ghi chú; những từ khó hiểu đối với người ngày nay, tôi cũng tìm tài liệu để tra cứu và chú thích.

 

Các chú thích ghi số là của bản gốc (nguyên chú).

Các chú thích hoa thị (*) là của người biên soạn.

 

                                                                                         N.B.S.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT SỐ SÁCH TRA CỨU ĐỂ CHÚ THÍCH TỪ NGỮ TRONG CÁC VĂN BẢN SƯU TẦM

* Alexandre de Rhodes : Từ điển An Nam – Lusitan – Latinh (thường gọi Từ điển Việt - Bồ - La). Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính phiên dịch. Tp.HCM. : Nxb. KHXH, 1991.

* Pierre Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu) : Tự vị Anam – Latinh (Dictionarium AnamiticoLatinum, 1772-1773). Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu. Tp. HCM. : Nxb. Trẻ, 1999.

* Huình Tịnh Paulus Của : Đại Nam quốc âm tự vị. Tham dụng chữ nho có giải nghĩa, có dẫn chứng, mượn 24 chữ cái phương Tây làm chữ bộ. Sài Gòn : Impr. Rey, Curiol et Cie ; 4, rue d’Adran, tome I : A-L, 1895; tom II : M-X, 1896. Bản in chụp, Tp. HCM : Nxb. Trẻ, 1998.

* Đào Duy Anh : Hán Việt từ điển (giản yếu) ; bản tái bản. Hà Nội : Nxb. Khoa học xã hội, 1992.

* Thiều Chửu : Hán Việt từ điển; bản tái bản. Hà Nội : Nxb. Văn hóa thông tin, 1999.

* Từ điển phương ngữ Nam Bộ. Nguyễn Văn Ái (chủ biên), Lê Văn Đức, Nguyễn Công Khai biên soạn. Tp. HCM : Nxb. Tp.HCM, 1994.

* Vương Hồng Sển  : Tự vị tiếng nói miền Nam ; bản tái bản. Tp. HCM : Nxb. Trẻ, 1999.

* Vương Lộc. : Từ điển từ cổ. Hà Nội - Đà Nẵng : 2001.

 

 

 

 

 

 

 

 


 

(1) Chú ý: số đông báo chí ở Sài Gòn đương thời thường xếp và đánh số trang theo lối của báo chí Trung Hoa đầu thế kỷ XX, tính thứ tự từ phải sang trái: mặt sau trang 1 là trang 6 (hoặc trang 4 nếu số báo ấy chỉ có cả  thảy 4 trang), tiếp đó là các trang 5,4,3; mặt sau trang 3 là trang 2; trang 2 cùng một mặt giấy với trang 1 nhưng là ở phần giấy nửa bên trái.

(2) Một số nhà nghiên cứu còn kể tên Tản Đà trong bộ biên tập Thần chung. Thật ra ở báo này hầu như không đăng gì của Tản Đà. Một số bài phê bình nhân vật của Thiếu Sơn (Những văn nhân chính khách một thời, Hà Nội, 1993) hoặc niên biểu Tản Đà (sách Tản Đà trong lòng thời đại, Hà Nội, 1997) cho thấy Tản Đà trở ra Bắc trước khi Đông Pháp thời báo ngừng hoạt động và ở lại ngoài Bắc suốt thời kỳ Thần chung hoạt động (từ tháng 1.1929 đến tháng 3.1930).

(3) Theo Phụ nữ tân văn (Sài Gòn, s.46, ngày 3.4.1930) mục Tin tức trong làng báo: Báo “Thần chung” bị chánh phủ cấm xuất bản, thì lý do bị cấm là: 1/ Trước đây có bài bị ty kiểm duyệt bỏ vài đoạn, nhưng Thần chung cứ để nguyên in không bỏ những đoạn đó. 2/ Ngày gần đây, Thần chung đăng bài nói về tình hình người Nhật Bản, dưới ký tên tắt C. Đ. Sau khi qua kiểm duyệt về in lại tự ý đổi tên tắt thành Cường Để, vì vậy bị cho là lừa gạt ty kiểm duyệt. Báo bị cấm xuất bản từ ngày 25.3.1930. Cũng về sự kiện báo Thần chung bị đóng cửa, có thể xem thêm bài của Vương Lệ Thiên: Thỏ chết động lòng chồn (tại sao báo “Thần chung” bị cấm xuất bản  ?, đăng báo Trung lập ngày 27.3.1930.

(4)  Có 1 kỳ báo không đánh số, là Thần chung số Tết kỷ tỵ, ra ngày 7.2.1929, sau số 26 (4.2.1929) và trước số 27 (18.2.1929). Ngoài ra, ừ 7.3.1930, tòa soạn liên tục mắc lầm lẫn về đánh số báo: số ra ngày 6.3.30 đánh số 331 (đúng), số ra ngày 7.3.30 vẫn đánh số 331 (sai, lẽ ra là 332); số ra ngày 8.3.30 đánh số 333 (đúng, nếu coi số ra hôm trước là đánh số lầm), thế nhưng báo ra ngày 9 và 10.3.30 lại đánh số 333 (trùng với số hôm trước); sau một  ngày báo tự nghỉ để kỷ niệm ngày mất Phan Chu Trinh (11.2 âm lịch, vào 10.3.1930), số tiếp theo ra ngày 12.3.30 lại được đánh số 334 và từ hôm sau báo đánh tiếp thứ tự này đến kỳ cuối (số 344). Tóm lại Thần chung năm 1929 có 1 kỳ không đánh số; năm 1930 có 2 kỳ đánh số 331, hai kỳ đánh số 333, nhưng lại không có số 332; tóm lại dư 2 kỳ do không đánh số hoặc đánh số trùng lặp.

(5) Hiện tượng một vài nhà văn cùng viết chung một chuyên mục hài đàm, châm biếm dưới một bút danh chung - được giới nghiên cứu văn học ở Nga gọi khái quát là hiện tượng “mặt nạ văn học” (literaturnaya maska), - một dạng của “mê hoặc” (mystification) trong văn nghệ thuật (Xem: Literaturnyi Enciklopedicheski Slovar, Từ điển bách khoa văn học, Moskva, 1987, tr.222).

(6) Giữa năm 1929 báo Thần chung tổ chức cuộc thi quốc sử; báo cho biên soạn và đăng tải các bản tóm tắt sự tích và công trạng 30 nhân vật trong sử Việt (Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ, Chu Văn An, Quang Trung, Trưng Vương, Trần Hưng Đạo, Lý  Thường Kiệt, Gia Long, Tô Hiến Thành, Lý Nam Đế, Ngô Quyền, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phạm Ngũ Lão, Phù Đổng Thiên Vương, Mạc Đĩnh Chi, Lê Đại Hành, Nguyễn Trãi, Lý Ông Trọng, Bố Cái Đại Vương, Lý Nhân Tông, Đào Duy Từ, Đoàn Thượng, Trịnh Kiểm, Triệu Ẩu, Nguyễn Xí, Lê Thánh Tông, Phan Đình Phùng, Lý Thánh Tông, Phạm Đình Trọng, Mai Hắc Đế), mời độc giả dự thi với 2 loại giải thưởng: 1/ “giải sắp sổ” tức là chọn lấy trong số đó 10 nhân vật mà mình cho là đáng kể nhất trong lịch sử Việt Nam, sắp xếp thành danh mục gửi về tòa báo; 2/ “giải về luận thuyết” tức là chọn lấy một trong số 30 nhân vật đó, viết một bài dài không quá 3 trang giấy nói rõ vì sao mình chọn nhân vật ấy là nhân vật bậc nhất trong sử Việt.

   Có vẻ như khi báo bị đóng cửa thì kết quả cuộc thi còn chưa được công bố. Nhưng việc 30 bản sự tích và công trạng 30 nhân vật huyền sử và lịch sử nói trên được báo cho đăng hai lần đã là dịp rất tốt để bồi dưỡng tri thức quốc sử cho công chúng.

(7)  Một số tác giả như Nguyễn Văn Xuân, Phan Cừ, Phan An (trong các phần phụ lục vào cuốn Chương Dân thi thoại tái bản, Đà Nẵng: 1998), Phan Thị Mỹ Khanh (Nhớ cha tôi Phan Khôi, Đà Nẵng: 2001) nói rằng Phan Khôi làm chủ bút PNTV; nhưng người cùng thời như Thiếu Sơn (Những văn nhân chính khách một thời, Hà Nội: 1993) lại không xác nhận điều này; nhà nghiên cứu Huỳnh Văn Tòng (sđd.) chỉ nói đến sự “hợp tác” của Phan Khôi với tờ tuần báo này mà thôi.

(8) Nhật báo Trung lập ở Sài Gòn ngày 22.12.1930 đăng tin Mấy lời trối sau cùng của báo PNTV, cho biết PNTV bị cấm, số 82 là số cuối. Mười ngày sau, Trung lập ngày 31.12.1930 lại đưa tin: PNTV hôm nay mới thật tắt hơi, cho biết ngày 29 décembre chính phủ Nam Kỳ mới chuyển giao tờ lục suất đình bản của chính phủ Đông Dương cho chủ nhân tờ báo ấy là bà Nguyễn Đức Nhuận tức Cao Thị Khanh; báo còn cho biết tờ lục suất ấy chỉ nói phải đình bản chớ không nói tại cớ chi.

(9) Về thời điểm chấm dứt PNTN, nhà nghiên cứu Huỳnh Văn Tòng (sđd., tr.251-257, 442) ghi số cuối 271 ra ngày 20.12.1934, nhưng có chỗ lại dẫn hồi ức của Tế Xuyên nói PNTV bị đình bản theo nghị định ngày 20.12.1939(  ? có lẽ in lầm; thật ra là 1930, tức là lần đình bản giữa chừng  ?). Sách Thư tịch báo chí Việt Nam (Hà Nội, 1998) ghi số PNTV cuối cùng là 273. Tôi (LNA) cũng đã đọc bản vi phim PNTV có số cuối 273 ra vào dịp lễ Phục sinh (Pâques), ngày 21.4.1935.

 

© Copyright Lại Nguyên Ân 2004