BÀI TRỪ CÁI NẠN PHAN KHÔI Ở  NAM KỲ

 

Cùng bài "Tống Nho với phụ nữ"

Trong Phụ nữ tân văn số 95, ra ngày 13 Août 1931, ông Phan Khôi có viết bài "Tống nho với phụ nữ", yết đại ý ở dưới đề mục rằng:

"Cái luật cấm cải giá là bất công, vô đạo, cướp mất quyền lợi đàn bà mà không bổ ích gì cho phong hóa, nên phế trừ đi là phải".

Theo ý tôi, thời: Cái đại ý của bài luận lý ấy, thực là bất công, vô đạo, làm hại phong hóa mà không có bổ ích gì cho đàn bà, nên phế trừ đi là phải.

Xin cứ những lời tầm bậy trong bài ấy, chỉ trích và thuyết minh ra, để phụ nữ trong Nam và chư vị độc giả cùng nghe, rồi sẽ kết tội án Phan Khôi ở cuối.

Ngay trong lời yết đại ý ở dưới đề mục của bài ấy, mở đầu có năm chữ "cái luật cấm cải giá", thực rất là tầm bậy! Sự tầm bậy đó, ở chữ "luật" và chữ "cấm". − Nói về chữ "luật", t ông Khôi cũng đã biết là nói bướng, cho nên ông có đỡ lời ở khoảng cuối cột thứ sáu trong bài ấy rằng:

 "Sự cấm cải giá đó, tôi kêu bằng "luật", không phải là luật thiệt đâu. Nó không phải là luật trong pháp luật, mà là luật trong luân lý".

Đã biết không phải là luật, thời sao được dùng chữ đó để nói bướng? Xưa nay trong Hán văn, chỉ thường thấy có những chữ "pháp luật"  法律 , "hình luật"      chớ có chữ "luân lý luật"  倫 理            đặt đi với nhau bao giờ? Ông Khôi biết là nói bướng mà cứ nói, cho nên bảo là lời tầm bậy, thực rất là không oan!

Chữ "luật" đã tầm bậy, thời chữ "cấm" theo ở đó mà ra. Phàm những sự gì do pháp luật cấm chỉ không cho ai được như thế, nếu có ai dám như thế thời phải bắt làm tội, như thế mới dùng đến chữ "cấm"  . Cho nên như ở các đầu đường ngõ hẻm trong thành phố, thường có yết chữ:  禁不 得 放 穢 ! "Cấm bất đắc phóng uế". Vậy thời nếu có ai phóng uế ở chỗ đó, ông Phú-lít sẽ bắt làm tội. Như thế mới rõ là "cấm". Còn như đối với sự cải giá của đàn bà, xưa nay, dù vua chúa, dù thánh hiền, chỉ có khuyên người ta giữ được đạo trinh tiết là đáng quý đáng chuộng; chớ chưa từng có điều luật, kinh điển nào dám nói rõ: "cấm bất đắc cải giá" bao giờ. Đối với sự ấy mà nói rõ chữ "cấm", tôi chỉ nghe thấy, trong khi tôi còn nhỏ, ở những đám hát chèo ở thôn quê xứ Bắc, vai hề ra hát, có câu rằng:

"Chỉ vua ra cấm con gái hóa không cho đi lấy chồng.

Trống cơm ai vỗ nên "bông!"

Một đàn con nít sang sông đi tìm…"

Đến nay lại coi thấy ở trong bài luận thuyết của ông Phan Khôi là thứ hai. Lấy cái học thức chú hề chèo, mà viết bài luận lý, đăng lên to lớn ở trong tờ Tân văn. Ôi, nghĩ cũng đáng buồn cho báo giới nước ta lúc này, mà riêng tiếc cho tờ Tân văn son phấn kia vậy!

"Cái luật cấm cải giá" mà ông Phan Khôi đã nói bậy ra đó, ông cốt để vu buộc vào cho Tống nho. Cho nên ở đầu bài của ông viết, đặt là "Tống nho với phụ nữ". Trong bài, nói về những người đàn bà xa chồng mà ở yên không đi lấy chồng khác, cùng những người đàn bà hóa chồng mà ở vậy không đi lấy chồng khác, ông Khôi cho là chịu cái ảnh hưởng của Tống nho phần thứ nhất. Những lời của ông rằng:

"… cái ảnh hưởng trực tiếp thứ nhất là chịu của Tống nho, tức là cái luật cấm đàn bà cải giá".

"… phụ nữ ta vẫn còn sư thiệt thòi giống như vậy(1) bởi cái học thuyết của Tống nho".

Hai chữ "Tống nho" trong bài của ông, ý riêng trỏ vào phái Trình Tử, Chu Tử, mà phần nói về Trình Tử nhiều hơn. Lời ông Khôi rằng:

"Vậy mà đến Trình Hy (2) (sanh năm 1033) thời ông chủ trương một cách nghiêm khốc quá, ông cấm tiệt đàn bà không được cải giá, chẳng hề dung chế một chút nào".

Lời ông Khôi buộc lỗi Trình Tử như vậy, mà ông dẫn chứng ở trong một quyển sách chữ nho có nói:

      舊 問 : 人 或 居 孀 貧 窮 無 託 者, 可 再 嫁否.  : 只 是 後 世 怕 餓 死. 故 有 是 , 然 餓死    , 失 節 事 .

      Ông Khôi dịch:

"Lại hỏi(3): người đàn bà ở góa mà bần cùng không cậy nhờ ai được, thời có nên tái giá không?

"Đáp rằng(4): chỉ có người đời sau (đối với đời xưa), sợ chết đói, mới có cái thuyết ấy. Song le, chết đói là sự rất nhỏ, còn thất tiết là sự rất lớn!"

Giở lên, theo những lời đã chỉ trích trong bài của ông Khôi, xin chia làm hai đoạn thuyết minh, cho thấy sự luận lý không chánh đáng của bài luận lý ấy.

Cứ nguyên văn một đoạn trong sách chữ Hán như trên, mà ông Khôi dịch nghĩa ra như thế, thực là đúng. Dịch nghĩa đã đúng, mà nhận nghĩa sao còn sai? Chỉ là ông Khôi cố ý buộc lỗi cho Trình Tử, cho nên lời luận lý thành ra khiên cưỡng mà không chánh đáng vậy. Nay thuyết minh:

Cứ như lời của kẻ hỏi Trình Tử đó, chỉ hỏi là "có nên tái giá không?" Thực cũng chưa từng có nói đến tiếng "được". Nên với được, hai chữ ấy khác nhau rất xa. Đến như Trình Tử đáp lại, ý nghiêm mà lời rất thư từ, không dám bảo ngay kẻ hỏi rằng không nên: chỉ đem hai sự đối nhau, phân trần khinh trọng, (chữ nhỏ đó, ý là khinh; chữ lớn đó, ý là trọng). Nên hay không nên, mặc người hỏi tự quyết định lấy. Ví như:

Có kẻ hỏi: Ở nhà thời nhịn đói, có nên đi xin mà ăn không?

Đáp rằng: nhịn đói là sự thường, đi xin mà ăn là sự quan trọng.

Vậy thời kẻ kia, nếu không nhịn được đói, cứ đi xin mà ăn; không nên hay nên, cũng mặc ý. Tự người giả lời câu hỏi đó, muốn bảo rằng không nên, còn không dám nói rõ, mà đâu có dám rằng cấm ai?

Nay ông Khôi đã dẫn dịch câu ấy như thế, mà buộc chặt cho Trình Tử rằng "Cấm tiệt đàn bà không được cải giá". Thực là vu hãm tiên hiền    陷 先 賢  vậy!

Xét ra chỗ ông Khôi vu hãm tiên hiền như thế, thời biết những lời của ông nói, cho những người đàn bà xa chồng mà ở yên, cùng những người đàn bà hóa chồng mà ở vậy, cái ảnh hưởng trực tiếp thứ nhất, là chịu của Tống nho, thực là không có căn cứ gì vậy. Nay lại xin cứ ở kinh sử, xét theo mấy câu ngôn luận, mấy sự hành vi của cổ nhân, cho thấy rõ những lời luân lý của ông Khôi, chỉ là tầm bậy.

Xét về ngôn luận:

Ở kinh Dịch, có câu rằng:   婦人 貞 吉 從 一 而 終 也                         "Phụ nhân trinh cát, tùng nhất nhi chung dã". Nghĩa là "Người đàn bà mà chính chuyên, ấy tốt: Theo một chồng cho trọn đời".

Ở sử Bắc, đời Chiến quốc, lời Vương Chúc:  烈女 不 更 二 夫. Liệt nữ bất canh nhị phu". Nghĩa là "Người con gái tiết liệt: không đổi hai đời chồng".

Ngạn ngữ của nước ta có câu: "Gái chính chuyên, lấy một chồng". Tức là do ở hai câu chữ nho kia thoát nghĩa sang vậy.

Xét về hành vi:

Ở kinh Xuân thu, truyện họ Tả: "Công tử nước Tấn là Trùng Nhĩ, chạy nạn qua nước Địch, có lấy người vợ tên là Quý Ngỗi. Lúc Trùng Nhĩ lại bỏ Địch sắp chạy sang Tề, bảo Quý Ngỗi rằng: "Đợi tôi hai mươi nhăm (25) năm không giở lại thời rồi hay đi lấy chống". Quý Ngỗi nói: "Tôi nay đã hai mươi nhăm năm (tức là tuổi) lại như thế nữa mà mới lấy chồng, thời chỉ có chui vào quan tài! Nhưng mà xin đợi anh". Ấy là người đàn bà xa chồng mà đành lòng ở yên.

Ở kinh Thi, thơ Bách Chu:

      汎 彼 柏 舟, 在 彼 中 河, 欿 彼 兩 髦, 食 維 我 儀, 之 死矢 靡 他, 母 也 天 只, 不 諒 人 只.

"Phiếm bỉ bách chu, tại bỉ trung hà,

Khảm bỉ lưỡng mao, thực duy ngã nghi.

Chi tử thỉ mỹ tha.

Mẫu dã thiên chỉ, bất lượng nhân chỉ!

Dịch:

Lênh đênh kìa chiếc thuyền trôi!

Chiếc thuyền gỗ bách! ai ôi giữa giòng!

Trái đào buông xuống song song,

Thật là đôi lứa sánh cùng với ta.

Thân này đến chết ru mà,

Thề rằng chẳng có đậm đà cùng ai.

Mẹ ơi, mẹ thật như giời!

Sao mà chẳng lượng cho người thế ru?

Thơ này của nàng Cung Khương nước Vệ. Nàng hóa chồng sớm, bố mẹ muốn lại đem gả chồng khác, mà Nàng nhất định không nghe, cho nên làm ra thơ đây để tự thề cái chí mình.

Ấy là người đàn bà hóa chồng mà quyết lòng ở vậy.

Tóm lại những ngôn luận hành vi của cổ nhân như đó, đều ở về những đời Xuân thu Chiến quốc giở về trước, tức là ngang với nước ta trong khoảng đời Hùng Vương. Trình Tử, Chu Tử, các vị Tống nho sinh đời Nam Tống ở Trung Quốc, ngang với sử ta giữa đời nhà Lý giở về sau. Cứ vậy ngẫm ra, tự thấy rằng một đạo trinh tiết của đàn bà Á Đông, thực do thượng cổ truyền lai, gốc ở một chữ    trinh trong kinh Dịch nẩy mầm ra, đời đời nối tiếp vun bồi, gây thành cái phong hóa tuyệt thanh quý trong nhân loại. Nay Phan Khôi dám cho những sự đó là đàn bà chịu sự thiệt thòi, mà lại quy cái ảnh hưởng trực tiếp là chịu của Tống nho. Thực là loạn ngôn hoặc chúng vậy!

TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU

An Nam tạp chí, Hà Nội, s. 34 (26. 3. 1932)


 

(1) Ông Khôi trỏ tay vào việc vợ Trần Hòa trong bài nói của ông. (nguyên chú của Tản Đà)

(2) Cứ ở sách Trình Tử, Y Xuyên tiên sinh, tên là Di ( 程 頤  Trình Di); Chu Tử, Hối Am tiên sinh, tên là Hy ( 朱 熹 Chu Hy). Trong bài của ông Khôi có nói đến cả hai người: Trình Tử, Chu Tử. Vậy mà ông nói đến Trình Tử, toàn viết là "Trình Hy"; còn tên của Chu Tử thời không thấy nói đến. Lấy họ của người nọ, đặt vào tên người kia, như thể hợp hai người làm một, thật là kỳ quặc! Xem sự học của ông Khôi cẩu thả vô nghĩa lý như vậy, thời về phần luận lý của ông đủ biết. (nguyên chú của Tản Đà)

(3) Lời hoặc giả. (nguyên chú của Tản Đà)

(4)  Lời Trình Tử. (nguyên chú của Tản Đà).

 

 

 

© Copyright Lại Nguyên Ân