CŨNG THÌ TÊN, CÓ CÁI HỌ A HỌ NHÌN; CÓ CÁI BỎ BÒ LĂN BÒ LÓC KHÔNG AI NHÌN ĐẾN

Chúng tôi từng thấy có thứ ruộng hương hỏa, người ta kiện giành nhau để ăn mà lo giỗ lo chạp; cũng có thứ ruộng hương hỏa, đem trấn cho ông cháu nội nầy, ổng từ chối, đem tấn cho ông cháu nội kia, ổng cũng từ chối luôn; anh nào cũng nói rằng: "Phiên ai chớ chưa tới phiên tôi mà!"

Sao vậy? Sao cũng thì ruộng hương hỏa mà có đám thì thiếu điều móc họng với nhau để cày cho được, còn có đám lại lơ đi, như chó thấy thóc?

Có gì lạ đâu. Cái đám trên, người ta giành nhau đó, là đám béo lắm, chỉ có một cái giỗ ông hay một cái giỗ bà thôi, song cày một giây tới 30 mẫu ruộng không thèm lên bờ nữa, nó tiện mà lợi biết chừng nào! Còn đám dưới, cũng có tiếng hương hỏa với người ta, chớ chẳng ăn chi; ai có đời vừa giỗ lớn vừa giỗ nhỏ đến mười mấy cái cả thảy, mà chỉ có một mẫu mấy, lại nhằm đất chai là khác, năm nào cũng cứ chạy thuế trắng đờ con mắt, thì ai dại gì mà hứng lấy!

À, té ra ở đời ai cũng khôn hết, chớ có ai mà chịu dại ở đâu nà? Đã chẳng được vừa chì vừa chài, thêm mất cả vừa phao vừa lưới, ai chịu chơi? Cũng như "tốn than lại tan lưỡi cày, nong nia đã nát cối xay lại mòn", thì chẳng ma nào mà gánh hết.

Chẳng những ruộng hương hỏa, cái tên trên báo cũng vậy. Có cái tên họ a họ nhìn, mà cũng có cái tên bỏ bò lăn bò lóc, không ai nhìn đến.

Năm trước đây ở trên báo Thần chungĐông Pháp thời báo, có cái tên "Tân Việt", cái tên ấy nó tốt làm sao, nó hên làm sao, mà có nhiều người tranh nhau nhìn nó. Thậm chí vì nó mà năm ngoái đây trong tờ Đuốc nhà Nam mở một cuộc điều tra, coi thử cái tên ấy của ai.

Rốt cuộc lại, chẳng ai được nhìn cái tên Tân Việt cho y nguyên. Họ xé nhau ra từng mảnh, mỗi người một góc vậy mà họ cũng bằng lòng. Ông Diệp Văn Kỳ một phần, ông Phan Khôi một phần, nghe chừng ông Nguyễn Văn Bá cũng có một phần nữa, mỗi người họ chia nhau đem về cất ở nhà làm của quý.

Vậy thì cái tên Tân Việt quý thiệt. Đến chia ra vụn từng mảnh, mỗi người lấy một ít, như các nước giàu mạnh trên thế gian ngày nay chia nhau thứ lôi-đính (radium), mỗi nước chỉ được mấy gờ-ram, thì chẳng quý là gì?

Rồi bây giờ đây thì thấy cái tên "Thằng mình", coi bộ họ lơ đũa hết. Sao không gắp mà bỏ vô miệng đi? Sao không a vào mà giành nhau như trước nữa?

Trong một số Trung lập, cắc cớ lại để dưới cái tên Võ Khắc Thiệu bằng hai chữ "Thằng mình", có ý nói rằng Võ Khắc Thiệu tức là "Thằng mình" đó; vậy mà bữa sau thấy ông Võ Khắc Thiệu cự dữ. Ổng nói "Thằng mình" là tên chung chớ không phải tên của ông, sao lại nói của ổng, ổng không chịu nhìn.

Nực cười cho thiên hạ quá! Không biết cái tên “Thằng mình” nó có xấu háy gì sao mà ông Võ lại tránh nó đi?

Mà coi cho kỹ thì trong số Trung lập ấy, nói bà Võ Khắc Thiệu là "Thằng mình", chớ không phải nói ông Võ Khắc Thiệu đâu. Vậy có chối thì bà Võ phải chối trước, chớ đâu đã tới phiên chồng bả là ông Võ mà ông ấy lại vội vàng như vậy?

Vậy cho biết cái tên "Thằng mình" nó kỳ cục quá, nó khả ố quá, cho nên khi người ta chưa đem gán cho ông Võ Khắc Thiệu mà ông cũng đã chạy rồi, không nhìn nhận!

Trong việc ấy, Trung lập nếu có lỗi là lỗi ở chỗ chua chữ "Thằng mình" nó kỳ cục quá, nó khả ố quá, cho nên khi người ta chưa đem gán cho ông Võ Khắc Thiệu mà ông cũng đã chạy rồi, không nhìn nhận!

Trong việc ấy, Trung lập nếu có lỗi là lỗi ở chỗ chua chữ "Thằng mình" dưới tên bà Võ Khắc Thiệu, nhưng chỗ ấy ông Võ lại không được chỉ trích.

Ông Võ chỉ cố chối cho thoát khỏi cái tên "Thằng mình" đeo vào lưng ổng mà thôi. Thế đủ biết cái tên ấy là xui lắm, là vô đoan lắm, choán nó mà ăn nhậu gì, cũng như đám đất hương hỏa nói hồi nãy.

THÔNG REO

    Trung lập, Sài Gòn, s. 6682 (16. 3. 1932)

 

 

 

 

 

© Copyright Lại Nguyên Ân