DẦU LÍNH LÀNG CŨNG PHẢI BIẾT CHỮ CHỚ

Thấy người ta họ nói chuyện với nhau, nói nếu họ phải ra đi lính thì thà họ làm lính làng.

Lính ở trong các thành phố, thành phố lớn chừng nào, thì cái chức của ông lính lại càng lút mất đi chừng nấy. Bởi vậy, như ở Sài Gòn đây mà làm lính tập, lính pháo thủ, lính cảnh sát, bất kỳ lính gì, người ta cũng không ưng bằng về làng mà mặc cái "áo ban".

Bởi lính làng oai hơn.

Câu chuyện đó, tôi nghe đã lâu, có điều nghe làm tai vậy thôi, chớ tin thì tôi không tin. Bởi vì, theo ý tôi, ở đất nầy, ở đời nầy, mình có làm cái gì cũng chẳng qua kiếm ba hột để nuôi miệng mà thôi, chớ sang trọng gì? oai gì? mà lựa mà chọn? mà thà làm cái nầy không làm cái kia?

Cho nên, tôi gẫm phận tôi, tôi viết báo được thì viết báo để kiếm tiền chơi; mà không viết được thì tôi đi làm nghề khác, hay là tôi làm lính cũng được, chớ tôi không ngại gì hết. Mà đã làm lính thì ở đâu cũng là lính, lựa phải lính làng mới chịu làm?

Ấy, ở đời mà đồng đỗng ruột voi như tôi vậy là sai bét hết, hôm nay tôi mới biết!

Phải làm lính làng. Có làm lính làng thì mới nên làm. Bởi lính làng oai hơn.

Tôi ở Sài Gòn một vài tháng, tôi lại đi dạo các miền nhà quê gần thành phố một lần. Vừa rồi tôi đi đến một làng cách Sài Gòn chừng 20 cây số, tôi mới thấy ông lính làng là oai.

Tối mà sáng trăng, ấy là đêm 14 An Nam vừa rồi. Tôi ngồi một mình ngoạn nguyệt chơi giữa một đám ruộng bỏ không cấy mà nằm thí một bên đường cái. Thình lình có người đứng trên đường cái kêu một tiếng, mà tôi nhận là chỉ có kêu tôi:

– Ê!

Mình ở Sài Gòn, tự do quen, ai đối đãi với mình hơi vô lễ một chút là mình mần ngơ, không thì mình cự. Nhưng mà ở đây, mần ngơ là phải hơn. Tôi mần ngơ.

– Ê! – Người ấy lại kêu, – Ai đó? Ra biểu đây!

Tôi cho được đi! Là vì tôi mặc áo cụt, đi guốc, đầu không nón, bộ tướng xù xì, người ta vô lễ với mình cũng phải. Tôi bèn chạy ra.

– Ai kêu tôi phải? Kêu gì tôi?

– À! đưa giấy thuế thân đây coi, đừng hỏi nói gì lôi thôi hết.

Tôi móc túi đưa ra, một cái giấy thuế thân ở quê tôi, một cái giấy nước Sài Gòn, một cái căn cước; làm như vậy là tính cho gọn một lần, kẻo để móc túi hoài thất công.

– Giấy gì mà tới chín xe mười giàn như vậy? – Người ấy     hỏi tôi.

Tôi làm thinh, trong ý nghĩ anh ta hỏi chơi, chớ coi rồi thì anh ta biết, nên không trả lời.

– Chú tên gì? Họ gì? Ở đâu? Bao nhiêu tuổi?

– Ủa hay! Anh coi giấy thì anh khắc biết. Cốt nhứt là anh coi cái hình trong giấy đó có phải là tôi đây hay không, là đủ rồi; chớ giang ca làm gì?

– Nói hay chưa! Chú phải nói thử có đúng với trong giấy nầy không chớ?

– Cái đó kỳ lắm! Lính ở Sài Gòn không hề soát giấy cách như vậy.

Tôi nói đến câu đó, chú ta làm thinh, in như nghe Sài Gòn mà có ý nể. Tôi thấy cầm săm soi ba cái giấy hoài, không biết coi gì lâu vậy, bèn dòm sát lại, thì té ra chú va cầm hết hai cái lộn đầu, thì còn coi gì ra!

Liền có một người khác, như cũng là lính, tới dựt ba cái giấy trên tay anh ta, coi rồi nói gì với nhau đó, tôi không nghe phủng, lập tức họ trao giấy lại cho tôi đi.

Tôi mới biết lính làng oai thiệt!

Nhưng, sao lại hình như không biết chữ? Không biết chữ thì còn soát giấy gì? Tưởng quan trên không nên để cho mấy chú lính dốt đi soát giấy mà khuấy rầy người ta, mới phải.

THÔNG REO

Trung lập, Sài Gòn, s. 6647 (25. 1. 1932)

 

 

 

 

© Copyright Lại Nguyên Ân