ỐI CHÔI CHA LÀ ANH EM!

Chừng năm sáu năm nay, trong nước ta có sanh ra một cái kiểu mới, là kêu nhau những người trong nước bằng anh em chị em.

Hồi trước nói "đồng bào" hay là "đồng bang" thì bây giờ họ đổi ra mà nói "anh em chị em". Tuy cũng còn dùng những chữ "đồng bào, đồng bang" song những tay thiệt thà thì mới dùng như vậy, chớ còn ai hơi sắc sảo một chút, da mặt hơi láng một chút là họ nói anh em chị em, chớ không chịu nói đồng bang đồng bào.

Tiếng "đồng bang" chỉ nghĩa là người cùng một nước, chưa được thân thiết mấy. Đến "đồng bào" thì là anh ruột, nhưng vì nó là chữ Hán, sợ có người không hiểu đến nghĩa đen của nó thì cũng không nhìn thấy chỗ thân thiết.

Chỉ có nói "anh em chị em" là nghe ngộ nghĩnh hơn hết. Nó đã thân thiết như chữ đồng bào mà lại dễ hiểu hơn; nó còn cái lợi là gồm có đàn bà ở trong, chỉ tuốt tuột được hết thảy con Rồng cháu Tiên mà không luận phe nam hay phe nữ.

Có người giỏi nhớ, nói cái danh từ mới ấy – anh em chị em – bày ra lần đầu trong cái tờ đạt của ban uỷ viên coi đám táng cụ Phan Tây Hồ. Tờ đạt ấy có hiệu lực thế nào, tưởng ai cũng biết. Bởi vậy từ đó về sau, người nào viết cái gì có tánh chất truyền đạt cho công chúng mà muốn cho được việc, cũng hay dùng chữ anh em chị em mà xưng hô hết thảy người đồng nước cùng mình.

Cho đến bây giờ thì trên báo cũng thường thấy bốn chữ ấy. Đại để như ông tổng lý tờ báo kia, bảo ai có việc gì muốn nói cùng mình thì cũng nói bằng kiểu ấy: "Anh em chị em có muốn hỏi han điều gì, xin cứ đến tòa soạn mỗ, tôi sẽ vui lòng tiếp rước và chỉ bảo giùm cho".

Ý chà! họ thương nhau quá chừng! họ ở với nhau thiết cốt quá chớ!

Anh em chị em!

Dân của nước Việt Nam nầy là một  máu một mủ với nhau, là anh em chị em!

Thương hại! Tôi trầm trồ khen ngợi chửa dứt lời thì cái mảnh giấy cỏn con ở trong rương thằng cha Thái Trưng nó lòi ra làm cho tôi phải ới hợi mà than rằng: "Ối chối cha là anh em!".

Thái Trưng 26 tuổi, người làng Tư Phú, tỉnh Quảng Nam vô làm cu-li tại Sài Gòn, vừa rồi bị xe lửa cán chết. Va làm cu-li cho sở xe lửa mà lại bị xe lửa cán, cái cũng đáng thảm cho va. Nhưng mà, coi bộ chết rồi thì cũng thôi, chẳng ai hề vì sự rủi ro trong cơn làm việc mà nói đến chuyện bồi thường nhơn mạng cho va hết.

Người ta làm thinh thì mình cũng chẳng nên nói đến làm chi. Tôi nói đây là nói chuyện anh em.

Trưng lương tháng chỉ có 16 đồng, mà va khéo để dành, cho nên có cho vay đặt nợ được mớ nhắm. Phải chi "anh em" mà tốt bụng thì sau khi va chết đây, va còn một bà mẹ già, một người vợ yếu, ai có vay của va thì làm phước trả lại dùm, há chẳng đỡ đần cho người bạc mạng ấy sao? Song than ôi! "anh em" có đâu được tốt thế!

Người ta lục trong rương của Trưng để lại, có một mảnh giấy nhỏ nhỏ, viết một hàng chữ như vầy: "Tôi cho anh em vay cọng là 149 đồng".

Thái Trưng, tội nghiệp cho va, cũng biết dùng danh từ mới! "Tôi cho anh em vay cọng là 149 đồng", nhưng không hề nói rõ tên ai.

Vậy mới khốn. Bây giờ anh em chẳng có ai nhìn hết. Chẳng có một người nào dám đứng ra mà nói: "Đây, tôi là người có vay của Thái Trưng đây".

Bữa nay Thái Trưng chôn dưới đất rồi. Mẹ và vợ va vật mình vật mẩy mà khóc mấy mặc kệ ở ngoài làng Tư Phú. Còn anh em ở đây thì cũng vẫn là anh em!

THÔNG REO

Trung lập, Sài Gòn, s. 6657 (16. 2. 1932)

 


 

(*) Chỗ này báo gốc để chấm lửng liền 2 dòng, tức có khoảng 7-12 từ bị tòa soạn bỏ.

[a] Lưu ý: ở đây cho thấy tên (titre = đề, nhan đề) một bài báo, một tác phẩm có thể gồm đủ: sur titre (= đề trên cùng); titre (= tên, nhan đề chính); sous titre (= phó đề, phụ đề).

(*) Tập dân nguyện (Cahier des Voeux, cũng được dịch là Tập Dân vọng): văn bản do Nguyễn Phan Long đứng đầu danh sách 600 người Việt, dâng cho Toàn quyền Đông Dương Varènne năm 1925 (xem: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1930, H., 2006, tr. 332-335).

(*) các chỗ này bản gốc chấm lửng mỗi chỗ hơn 2 dòng.

 

 

 

 

© Copyright Lại Nguyên Ân