TỰ TỬ LÀ DỞ

Xưa nay không phải trong xã hội Việt Nam không bao giờ có tự tử. Nhưng mà xưa kia đám người tự tử thường là đàn bà con gái. Tự tử vì chồng nghi oan, tự tử vì bị trai gạt làm cho căn duyên lỡ làng, tự tử vì cha mẹ gả ép không được trăm năm kết tóc với người yêu quý.

Ngày nay lại sanh ra cái nạn tự tử vì thất nghiệp, vì bữa đói bữa no. Luân lý, phong tục rất có quan hệ với mấy đám tự tử ngày xưa. Xưa kia luân lý trói buộc, phong tục hẹp hòi, dư luận dại dột, nó giết người. Ngày nay con người tự giết lấy mình vì mình đương quen với sự sung sướng, thình lình lại gặp sự khó khăn, không đủ tinh thần để chịu với cảnh khổ đặng đợi dịp mà thắng lại nó. Xưa kia, muốn cứu người, phải mở rộng dư luận ra. Ngày nay, muốn cứu người, phải thắt hẹp dư luận lại.

Nghĩa là ngày nay dư luận không nên thảm thương mấy người tự tử vì chịu đói chịu khổ không nổi, mà lại còn phải nói quả quyết rằng người tự tử ấy là người yếu, người dở.

Cuộc đời là một cuộc tranh đấu rất dữ dội, mà dân tộc mình lại dạy nhau cái tánh nhẫn nhịn, nhu nhược, làm sao đến giờ khó khăn có đủ sức chống chỏi với cảnh nghịch? Âu châu thì thường nói: "Tranh đấu đặng sống". Hermann Keyserling có viết: "Dân tộc nào mất cái tánh chất tranh đấu thì dân tộc ấy suy, sắp bị tiêu diệt". Vì vậy mà, đối với người Âu châu, câu nầy là một câu nhục nhã: "Nó tự tử vì nó không đủ sức sống". Nhưng xét cho kỹ lại thì bất lựa dân tộc nào, dầu tinh thần mạnh hay tinh thần yếu cũng không thể nhìn nhận sự tự tử là phải.

Trộm cướp là tội nặng trong xã hội. Song vì đói mà trộm cướp thì luật pháp, dư luận còn có thể dung. Chớ vì đói một ít bữa mà tự t, thì tuy luật pháp không nói đến, chớ dư luận nó dửng dưng, có giỏi lắm là thảm thương, không bao giờ nhìn nhận là phải.

Tương lai của nhơn loại còn dài, sự tính của người tự tử nó vắn quá, cho nên nhơn loại không thể hoan nghinh sự tự tử được. Dầu biết thế nào cũng thất bại, mà mình cũng cứ phấn đấu, cứ chống chỏi cho đến kỳ cùng, thì bất lựa là vì việc gì, thiên hạ cũng thầm khen.

Dầu ở trong hoàn cảnh vô hy vọng mà mình cũng cứ phấn đấu thì sự phấn đấu ấy là hy vọng đó. Hy vọng của mình là hy vọng cho con cháu, cho bao nhiêu người nối theo sau kia.

Trong một tạp chí Pháp mới đây, có một cái hình chụp: một bà già người Đức xưa kia giàu, ngồi không ăn, gặp lúc kinh tế khuẫn bách, suy sụp, chỉ còn một cái máy hát, bà mới dùng nó để giúp bà hát múa ngoài đường cho thiên hạ coi đặng xin xu. Trong hình thấy kẻ qua lại, ghé mắt, miệng cười cười. Mà bà cứ múa hát một cách tự nhiên.

Bà già ấy, tuổi có quá tám mươi, gặp cảnh nghịch mà vẫn còn tìm ra phương đặng sống. Còn thầy X, cô Y kia, tuổi còn xuân xanh, gặp một chút khổ, đã toan mưu thoát kiếp phong trần. Lấy bao nhiêu đó mà so thì đủ rõ dân tộc Âu châu tràn lan khắp cả hoàn cầu, đi đến đâu mạnh mẽ đến đó, điều ấy chẳng lạ chi.

Dẫu bà già ấy rán sống chỉ để nêu trước mắt loài người một cái chứng cớ rõ ràng rằng xã hội ngày nay chưa được hoàn toàn, thì đối với nhơn loại còn tấn hóa kia, bà già ấy cũng kêu được là một người ơn.

Cái chí của thanh niên đã thường khoe là như núi Thái Sơn, mà gặp sự trở ngại nhỏ như bát cơm, lại bị tiêu tan đi, chẳng phải là đáng thẹn sao? Nếu trong nhơn loại từ xưa đến nay ai ai cũng, hễ gặp một bữa đói, toan mưu tự tử, thì các vĩ nhơn còn để dấu tích lại kia, không sống được người nào cả.

THÔNG REO

Trung lập, Sài Gòn, s. 6842 (28. 9. 1932)

 

 

 

© Copyright Lại Nguyên Ân