ANH CHÀ TƯ

Không biết ai có hiểu tại làm sao mà hễ nói động tới anh Chà (a) thì trong trí ta bắt ngụ ý là nói chuyện anh Bảy?

Anh Bảy! Tiếng ta thiếu chi thứ, từ thứ hai, thứ ba, thứ tư, cho tới thứ mười mấy, mà sao lại không lựa thứ nào khác để đặt cho, cứ hễ anh Chà thì kêu là anh Bảy ráo.

Quái lạ, quái lạ thật! Muốn độ cho ra tâm lý của bình dân phải theo họ mà hiểu ngầm những chỗ lý do ngoắt ngoéo đó.

Tiếng ta sẵn có những thành ngữ "bợm bãi", "bãi buôi". Có lẽ do những vần nầy mà bình dân ta đã đặt ra câu hát:

"Vỗ vai con Bảy không ừ, hay là con Bảy giận, con Bảy từ ngỡi anh?"

Con Bảy mà đàn ông con trai vỗ vai chừng nào chỗ nào cũng đặng, thì con Bảy ấy có nhân ngỡi gì cho bằng nhân ngỡi tiền? Cái giống người mà coi đồng bạc trọng hơn hết mọi sự thì đến con Bảy đó gả cho mới xứng. Vả chăng anh Chà nào mới để chưn lên đất Việt, cũng tự xưng mình là mập-lê (chàng rể) hết. Ừ, anh Bảy muốn làm rể, thì con Bảy nó ưng anh: miễn anh bê cho nó bạc con cò, thì nó không giận không từ, mà ngỡi nhân càng khắng khít!

Đời bây giờ, mấy anh Chà ranh con họ đã đạt được cái nghĩa kêu anh Bảy là một cách nói xiên ngoa bao biếm nên họ hay xưng thứ, sửa cho người mình kêu họ bằng anh Hai, anh Tư.

Được, thì anh Chà Hai, anh Chà Tư cũng như anh Chà Tư góp tiền chỗ ở chợ Bà Điểm (Gia Định) đó.

Anh Chà Tư, trước khi ra đấu giá tiền chỗ chợ trong làng, thì ảnh đã tò mò tẳn mẳn tập điều lệ (cahier des charges) kia kỹ lắm. Thế mà chừng gặp chầu cận tết thấy mấy thành phố lớn tăng tiền chỗ ảnh cũng là mượn trớn tăng theo.

Thông Reo không nghe nói anh Chà Tư mượn cớ tết mà tăng tiền chỗ mấy thớt thịt ở tại chợ Bà Điểm, song nghe nói mấy chưn bán cá đồng ở chợ ấy đều có bị ảnh gia tăng bội nhị hết ráo. Mấy chị bán cá thảy đồng lòng kháng cự, dầu cho hương hào hương quản có ép mấy họ cũng không nghe.

Được đa chị em! Lạ gì thói "đâu mềm thì gắn, đâu rắn thì buông"; thét rồi anh Chà Tư la ảnh cũng phải buông tha nhả nhóm mấy chị bạn hàng cá. Vậy mà còn chưa tởn. Tởn làm gì? Muốn biết đâu là mềm, đâu là rắn, không cụng thử thì làm sao…? Phải rồi! Thì Bảy Tư mình cứ việc cụng!

Thật quả vậy! anh Chà Tư léo quéo lại cụng nhằm một cô bán đường tán, người lạ mặt ở đâu trên miệt Thủ (Thủ Dầu Một) xuống. Nghe nói ảnh đã ra biên lai thâu của cô nọ hai cắc bạc tiền chỗ rồi, chừng nghe con mẹ tư (cũng là tư) tư Nhọn tư Nhọt nào đâm thọc, ảnh bèn tiếc của đời, lại trở ngoáy đòi cô bán đường thêm sáu cắc nữa.

Chơi mửng trặc họng vậy biểu sao đừng sanh giặc! Việc nầy có ra tới ông cò Bà Điểm, nhờ cô bán đường Thủ biết nói tiếng Lang Sa mà anh Chà Tư không nuốt được. Nhả cấp nữa.

Thế mà nghe như từ hôm mùng ba tết trở lợi đây, anh Chà Tư hãy còn vịn cái nê tết mà thâu tiền cho nặng hơn ngày thường. Ảnh nói ảnh được phép thâu như vậy cho tới bữa mùng bảy, vì An Nam ăn tết đến bảy ngày mà!

Ừ, An Nam quả có nói ba ngày tết bảy ngày tư; song Bảy Tư mình phải dò đi hỏi lại cho kỹ kẻo…

THÔNG REO

Nguồn:

Trung lập, Sài Gòn, s. 6927 (2. 2. 1933)

Chú thích

(a) Chà (nói gọn từ “Chà-và”, tức Java): tên chung mà người Việt ở miền Nam đương thời dùng để gọi dân nhập cư từ các nước Đông và Nam Á (Malaysia, Indonesia, v.v…)