BẢO TỒN CỔ TÍCH  

Hà Nội và chung quanh nó có bao nhiêu cổ tích đáng bảo tồn. Mà có nhờ bảo tồn thì mới còn lại đó. Như những Văn Miếu, đền Ngọc Sơn, chùa Láng, chùa Một Cột… giá không bảo tồn thì nó cũng đã như cái chùa ông Thượng Giai rồi.

Bảo tồn là phải; ngặt có cái bảo tồn thì lại hại sự vệ sinh, mất vẻ nhã quan, nhưng cũng phải bảo tồn.

Sao vậy? Vì ở trong nước này chẳng còn có việc gì lớn hơn việc bảo tồn nữa. Bảo tồn là cái thiên kinh địa nghĩa của dân Việt Nam, của người Hà Nội.

Từ đời Tự Đức về trước, ở Hà Nội, hàng Ngang, hàng Đào, hàng Bông, hàng Gai, nhà cất chen chít với nhau, trong nhà không có cầu xí, cũng không có ngõ sau, cả thành phố đều lấy chung quanh hồ Gươm làm nơi phóng uế.

Suốt năm sáu trăm năm như thế, tiên dân chúng ta cũng cứ sống như thường, Hà Nội cũng chẳng hề kém mất cái vẻ thanh danh văn vật. Ấy là một thời đại khác.

Từ bước vào khoảng đời Đồng Khánh, Thành Thái, luật thành phố buộc mỗi nhà phải nhận lấy một cái thùng, để trong cái cầu tiêu xây bằng gạch. Từ đó rồi Hồ Gươm mới trở nên nơi sạch sẽ, dần dần đến ngày nay người ta mới ăn kem ở đó được.

Thế nhưng kiểu nhà các dãy phố vẫn không thay đổi, mỗi nhà vẫn không có ngõ sau. Mỗi đêm lấy thùng phải đi cửa chính, thật là một sự khiếm nhã và bất tiện. Giữa chốn ngàn năm văn vật mà hằng đêm phải nghe những tiếng "mở cửa đổ thùng nhá" thì phỏng còn ai dám tự phụ cái văn vật ấy được nữa ư? Nhà nào cũng chưng ra những giường Hồng Kông, sập gụ, salon kiểu Lỗ-ý-thập-ngũ, thế mà rủi rây phải cái vật rất tầm thường ấy trong lúc nó đi qua, thì chẳng biết người ta hối hận đến bậc nào!

Muốn cho nhã và tiện thì duy có phá bớt phía sau mỗi phố đi mà làm một con đường hẻm, thông vào cầu tiêu mỗi nhà, như ở Sài Gòn cùng các thành phố kiểu mới, mới được.

Một điều ngăn trở không làm được, là phá bớt như thế, sẽ trái với cái nghĩa bảo tồn đi. Cái di tích của Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê đời trước, nỡ nào ta đi hủy diệt nó?

Việc hiện tại, làm chứng cho cái sự cực chẳng đã phải bảo tồn ấy lại có việc ba con ngựa.

Ở Hàng Bông, có nhà nuôi ba con ngựa. Đến mùa nắng này, cứt đái của nó bốc lên thành hơi, lẫn trong không khí, cả năm ba nhà lân cận đó đều ngửi thấy cái vị bất kham. Không khéo sẽ phát toi phát dịch ra đấy. Song, ngặt nhau vì ngựa ấy, chưa biết chừng, có lẽ là ngựa cổ tích, phải bảo tồn.

Một nhà khảo cổ nói rằng lúc nhà Trần có mấy con ngựa đá phá giặc Nguyên và có quân công, như trong một bài thi của một vị đức ông đời bấy giờ có nói "Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã". Ba con ngựa này có lẽ là do đám ngựa đá kia còn sót lại để im xem xem chớ vội đuổi chúng nó về chuồng mà theo luật phải bắt chủ chúng nó cất ở ngoại ô.

Một nhà khảo cổ khác, cứ theo sách Tây Sơn ngoại sử, là sách bị vùi dập một trăm năm nay, ông Sở Cuồng mới phát hiện, đoán định như vầy: Hồi chúa Tây Sơn Nguyễn Huệ cử binh ra phù Lê diệt Trịnh, có đem theo trong đạo quân ngài ba trăm con voi và năm trăm con ngựa. Những voi ấy nó phục xuống gần Ô Cầu Giấy, làm nên cái di tích đền Voi Phục bây giờ; còn năm trăm con ngựa thì chết mòn mỏi hết, hiện nay còn có ba con nuôi tại Hàng Bông đó, cho nên cái nghĩa vụ của chúng ta là phải bảo tồn.

Ấy vì cái nghĩa bảo tồn đó nên bà con ở gần cái nhà Hàng Bông kia tắc tỵ thở không được. Ba con ngựa ấy ngày nay nó không giúp việc cho xã tắc nữa, vì kinh tế khủng hoảng, nó phải kéo xe đám ma.

BƯỚNG NHÂN

Nguồn:

Thực nghiệp dân báo, Hà Nội, s. 71 (14. 6. 1933), tr. 1, 2.