Giặc Ba Nhàn

Ba Nhàn, người làng Bình Đắng, huyện Bạch Hạc, tỉnh Sơn Tây, ở về thuở Minh Mạng, ban đầu vốn là một kẻ cắp xoàng, sau nhân trong khi ăn trộm thuyền muối có giết một tên thủy thủ, rồi đi trốn, dần dần trở nên tướng cướp và tướng giặc.

Bấy giờ Nhàn ẩn mình tại chợ Canh. Trong chợ có cây đa lớn, cành lá sum sê, nơi thân cây có một cái bộng, ban ngày Nhàn nằm trong bộng ấy, đến chiều tối, khi tan chợ, xuống mà đón đường cướp dựt hoặc hãm hiếp đàn bà con gái, cư dân ở đó rất lấy làm khổ vì hắn.

Tại Hạc Quan là nơi tuần ty, thuyền bè buôn bán và người ta ở đông lắm, có một bà góa kêu là bà Tổng Hai Hạc, nhà rất giàu, có hơn trăm căn phố ngói, nhưng tường cao cổng kín lắm, kẻ cướp không làm gì được. Một hôm, Ba Nhàn giả dạng lái buôn, đi bằng một chiếc thuyền lớn, chở đầy những bao bông, ghé vào nhà bà ấy mà bán. Giá cả xong, thuê phu khiêng những bao bông ấy lên, có đến năm sáu chục khiêng, để riêng trong một căn nhà. Bấy giờ trời nhá nhem, chủ nhà cũng không soát lại nữa. Đến tối, những bao bông ấy vùng dậy, té ra trong mỗi bao có một người đủ cả khí giới. Chúng bắt bà Tổng Hai mà khảo của. Bà ấy nói cùng Ba Nhàn rằng: “Sự đã đến thế này, thôi của chị đây tức là của cậu; còn cái mạng này, mặc ý muốn để thì để, muốn giết thì giết!” Ba Nhàn nghe nói, cười và tha cho bà. Bà bèn sai làm thịt trâu dọn rượu thết chúng. Sáng ra, chúng xuống thuyền đi, không lấy một vật gì cả.

Kế đó Ba Nhàn cùng với đồ đảng là Ba Tín, Thiết Thạch, Tiền Bột, Tiền Mi lẻn vào địa phận làng Tam Dương, cướp bóc nhiễu hại nhân dân ở đó. Chúng cất lên những kho đụn trong rừng cấm dưới núi Tam Đảo, chứa của cải rất nhiều.

Ba Nhàn dạn gan lắm. Khi đánh nhau với quan quân, Nhàn thường đâm chết những lính ngồi trên lưng voi; lại hay dùng câu liêm mà dựt đứt vòi voi, làm cho voi vừa rống vừa chạy, quan quân vì đó bại trận. Cho nên bấy giờ đã có câu tục ngữ: “Gan như gan Ba Nhàn”.

Năm Minh Mạng 13, Tổng đốc Sơn Tây là ông Nguyễn Công Hoán sai ông Tôn Thất Bật đem binh tiễu nã. Trận đánh tại Quất Lưu, Bật với Ba Nhàn đánh tay đôi cùng nhau, trọn ngày không phân thua được, còn quân lính hai bên chỉ đứng yên mà nhìn. Nhàn biết Bật không thể địch nổi, bèn rút về, vào trong các miền rừng Phù Ninh, cứ đó làm sào huyệt, lâu lâu lại ra đánh phá cướp bóc; dân gian bấy giờ bị hại rất nhiều.

Nhàn ở đó tám chín năm, quan quân chẳng làm gì được. Năm Thiệu Trị 2, ông Nguyễn Đăng Giai làm Tổng đốc Sơn Tây, có kẻ đến chỉ ra hai ngôi mả của cha mẹ Nhàn, ông bèn sai lính tới đào lên, lấy xương đem về, ban ngày thì phơi ra nắng, ban đêm thì dầm trong nước đái. Lại sai Tôn Thất Bật kéo binh thẳng vào sào huyệt nó. Ông Nguyễn Đăng Giai ưa đạo Phật, đến đây cũng cất chùa, cho các sư đi khuyến giáo khắp nơi; nhưng kỳ thực là để đi thám Ba Nhàn. Sau thám ra Ba Nhàn ở nhà cai tổng Hùng, làng Hiệu Lực, huyện Tùng Thiện, bèn đem binh tới vây. May Nhàn thoát thân được. Quan Tổng đốc bắt cai tổng Hùng đem chém, nhưng lại cho tên Tại là con Hùng làm cai tổng thay cho cha, bắt phải chịu trách nhiệm về sự dẹp yên giặc Ba Nhàn.

Từ đó Ba Nhàn không chỗ dung thân nữa, lại đau lòng vì cớ hài cốt cha mẹ mình, bèn ra đầu thú. Quan Tổng đốc ban cho Nhàn tiền bạc và sai quân lính hộ tống hài cốt cha mẹ Nhàn về chôn tại làng, lại làm chay một tháng. Xong việc, Ba Nhàn trở về tỉnh; liền có chỉ ra bảo bỏ cũi giải về Kinh. Đi đến đèo Ba Dội, Nhàn tự tử. Còn mấy tên dư đảng cũng ra đầu thú, rồi lần lần cũng đau mà chết.  

(Kiều Uýnh Mậu, Bản triều bạn nghịch liệt truyện).