KHÚC BÒ VÀNG

Vừa rồi Phong hóa đến hai lần chế báo Đông phương về cái “khúc Nam huân” của báo ấy. Nói cho tiêu tội thì lối văn này chẳng phải có từ bắt đầu báo Đông phương, mà Đông tây ngày xưa mới là nhà sáng thủy. Bấy giờ Đông tây mỗi số có “Khúc tiêu sầu” giọng văn cũng hơi rên, rên như khúc của Đông phương bây giờ, và là cái rên của kẻ không đau ốm.

Cho được chế báo Đông tây, hồi đó đã có người đặt ra “Khúc tiêu cơm”. Mà nói cho thật ra thì hai thứ khúc ấy quả thật có tính cách như nhau, vì khi người ta ngâm khúc tiêu sầu, sầu chẳng thấy tiêu, thì khi ngâm khúc tiêu cơm, cơm chẳng thấy tiêu vậy.

Nay đến Đông phương bịa ra “khúc Nam huân”, chẳng biết lấy nghĩa gì. Nam huân là khúc đàn Nam phong của vua Thuấn cách đây bốn nghìn năm, nó êm hòa ấm áp thế nào, thì nay khúc Nam huân của Đông phương nó lạnh lùng lạt bỏ (a) thế ấy.

Thử kể ra đây vài đoạn:

“Nhàn du dạo gót, thành tây thăm viếng buổi chiều thu.

Ngao ngán thay, nhác trông phong cảnh chạnh lòng đau, đá lở bia tàn, bia với đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt…

Than ôi! cuộc thế tang thương, tơ lòng đòi đoạn… Hồ Lê đâu đó, muốn lên tiếng hỏi, hỏi cùng ai?...”

 

Phong hóa mới chế ra lối khúc khác để nhạo Đông phương. Khúc của Phong hóa không có tên, song đáng đặt tên là “khúc bắc phản”. Có một vài câu như vầy:

 

“Non nước nghìn trùng, con cuốc hạ thiết tha, ôi bèo trôi sóng vỗ. Bạn ơi! Ngày trước đi về xuân vẫn thắm, mà bông hoa vô tình con bướm nó lượn quanh…”

 

Như vậy, Phong hóa còn non gan lắm, chưa bằng ông Nguyễn Công Trứ. Ông Nguyễn Công Trứ muốn chế những nhà nho làm văn sách đọc nghe kêu mà kỳ thực vô nghĩa lý, ông đã ngâm chơi một đoạn, mà ở đây tôi kêu là “khúc Bò vàng”:

 

“Sông Hoàng Hà sâu tám mươi lăm trượng rưỡi; cá ăn cá béo; chim ăn không đặng, bay về đậu vạn nhẫn núi chi Hoàng Sơn. Trời sanh ông thánh, ông quánh, ông cướng, ông quạnh, ông cượng, ông quành ông cương, tự bất giác đôi lương chi quánh cướng…”  (b)

 

Coi đó thì thấy Phong hóa còn có nghĩa hơn của ông Nguyễn Công Trứ, cho nên tôi nói Phong hóa là non gan. Muốn chế nhạo một sự vô nghĩa, sao không dám đặt ra những lời cho thật là vô nghĩa?

Ông Nguyễn Công Trứ khi về hưu, đi đâu thường cỡi con bò vàng. Lúc ông đọc lên đoạn văn trên này, là lúc ông cùng ngồi nói chuyện với  mấy thầy cử đi thi Hội ở trong quán, mà con bò vàng của ông thì đương cột trước cửa, cho nên gọi là khúc bò vàng.

BƯỚNG NHÂN

Nguồn:

Thực nghiệp dân báo, Hà Nội, s. 82 (26 và 27. 6. 1933), tr. 1

Chú thích

(a)  Có thể là tác giả viết là “lạt lẽo” bị thợ in xếp chữ lầm.

(b) Thật ra, giai thoại này có nhiều dị bản khác nhau, trong đó đoạn văn Nguyễn Công Trứ giễu nhại lối văn sáo rỗng cũng có nhiều dị bản, ví dụ các địa danh trong đó sẽ là sông Nhị Hà, núi Hoành Sơn (chứ không phải sông Hoàng Hà núi Hoàng Sơn); hoặc nói "chim ăn chim béo, cá không ăn, cá bay về đậu núi…"  đậm nét vô nghĩa hơn dạng "cá ăn", "chim bay" như P.K. ghi lại ở bài trên. Xem thêm Huyền Li : Nguyễn Công Trứ qua 36 giai thoại, trong sách Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, Đoàn Tử Huyến chủ biên, Nxb. Nghệ An và Trung tâm VHNN Đông Tây, Nghệ An-Hà Nội, 2008, tr. 269-270.