TIỂU PHÊ BÌNH VỀ PHONG TỤC: TANG VÀ TẾ

Những điều giả dối trong tang lễ

Người mình, nhất là người có học cùng nhà phú quý, ‒ vì lễ nghĩa do hiền giả xuấtphú quý sinh lễ nghĩa, ‒ ai cũng phải coi sự cha mẹ chết, liệm, chôn, là một việc rất lớn không gì sánh lại của cả một đời kẻ làm con. Cho nên mọi sự trong khi ấy cần phải theo lễ, tức là các nghi văn phẩm tiết ứng dụng trong lúc người sống chôn kẻ chết mà thánh hiền đời xưa đã đặt ra vậy. Không theo lễ thì, kẻ làm con […] (a)

Đã gọi là lễ, của thánh hiền đặt ra, thì cái gì cũng phải cả, cũng tốt cả, đáng theo và buộc phải theo. Mọi người từ xưa đến nay đều đã in trí như vậy rồi, thành ra ai nấy chỉ có một việc theo, chứ không còn dám nghĩ đến thử hay là hỏi đến thử những cái nghi văn phẩm tiết ấy vì lẽ gì mà đặt ra nữa; huống chi là dám đem nó ra phê bình, chỉ vạch ra điều này phải, nên theo; điều kia trái, không nên.

Trong khi người ta theo lễ, cũng có gặp một đôi cái nghi văn phẩm tiết nào đó coi ra không hiệp ý mình, trái với lương tâm hay là chân tình của mình, nhưng cũng cứ việc theo. Khi ấy, người ta lại bằng lòng mà nói rằng: “Thánh hiền đặt ra điều này chắc có thâm ý sao  đó; có điều tại ta chưa đến bậc thánh hiền nên ta không hiểu và đem thi hành phải bợ ngợ”.

Ấy chẳng qua cái óc thích làm đầy tớ người xưa thì nói thế. Thực ra thì thánh hiền ăn hột cơm của đời các ngài, hột cơm ấy xui cho cái tư tưởng  của các ngài ra thế ấy; còn chúng ta ăn hột cơm của đời chúng ta, chúng ta phải nhân đó mà có riêng cái tư tưởng của chúng ta. Thánh hiền không phải là dở, lễ không phải là bậy, duy có điều nào không hiệp với cái ngày chúng ta đương ở đây, thì chúng ta không có thể dùng được nó nữa. Muốn biết điều nào không hiệp và không thể dùng, chúng ta nên đem nó ra phê bình.

***

Theo lễ thánh hiền đặt ra, thiên tử chết chín tháng mới chôn, chư hầu bảy tháng… xuống tới hạng bình dân, cũng còn phải để cái quan tài trong nhà cho được một tháng. Tục ta, chết rồi không chôn liền, nhà quan nhà giàu để đôi ba tháng, nhà trung thường cũng để một tháng hay mươi, mười lăm ngày, là căn cứ ở cái lễ ấy.

Chết để lâu mới chôn, có một điều đáng lo nhất, mà thường hay xảy ra nhất, là cái quan tài lậu hơi. Hoặc gỗ không được tốt, hoặc gỗ tốt mà trị quan không kỹ, cũng có thể lậu hơi được hết. Lậu hơi, là nói để nghe cho lịch sự, kỳ thực nhiều khi nó chảy nước. Nước ấy tức là do cái xác nó sình lên rồi tiêu ra, mùi nó thối không còn gì bằng.

Theo tục, mỗi khi rủi gặp sự như vậy, người trưởng nam phải tỏ mắt mà tìm cho được cái chỗ chảy nước rồi cúi mình xuống, le lưỡi ra mà liếm một cái, tức thì nước cầm lại không chảy nữa, và cái mùi thối cũng mất đi. Như thế, người ta cho rằng cái lòng hiếu thảo của người trưởng nam đã cảm động đến vong linh cha hoặc mẹ là người nằm trong săng đó, cho nên mới ứng ngay thế ấy, khác nào khi cha mẹ còn sống, có điều bất bình với con, con xin lỗi một tiếng, tức thì cha mẹ bỏ dữ làm lành!

[…………………..] (b)

Ngày nay, ở các thành phố, chúng ta sống dưới cái đời mới, chết phải chôn nội 24 giờ, cho nên cái lễ ấy không còn oai quyền gì với chúng ta được nữa. Nhưng ở nhà quê, vẫn còn có nơi giữ thói hủ lậu, để đến nửa tháng một tháng mới chôn. Thế mà cũng chẳng ai bảo người nhà quê theo lễ như vậy là hiếu, còn chúng ta ở thành phố, không theo lễ như vậy là bất hiếu. Vậy đủ biết lễ thuận nhân tình, điều nào tiện cho ta thì theo, chứ không cần mỗi mỗi phải theo hết.

*

Đám ma của người mình, đám nào cũng phải khóc từ lúc chết cho tới lúc chôn. Đám nào khóc nhiều chừng nào, người ta càng khen, càng cho là "ấm đám" chừng nấy. Thậm chí có nhà ít người khóc quá, phải thuê người ngoài vào khóc, bởi đó tục mới có tiếng “khóc mướn”.

Thường tình, đừng nói ai chết làm chi, dù cho cha mẹ chết mà cũng có “ca” khóc được, có “ca” khóc không được. Ấy là tùy cái tình cảnh con đối với cha mẹ. Con đương nhỏ, hoặc mới xố xố làm nên, vậy mà cha mẹ vội về đi, một đằng tủi vì mất chỗ cậy nhờ, một đằng thảm vì không ngày báo đáp, thì mới thành thật mà khóc được. Cái nước mắt ấy nó do trong tâm khảm của kẻ làm con mà ra. Còn như con đã trưởng thành hoặc đã già, cha mẹ tám chín mươi tuổi, liệt nhược lú lẫn năm mười năm rồi mới chết, thì cái chết ấy, nói tội lỗ miệng, con cũng nên mừng cho cha mẹ được thoát ly cái thống khổ trên trần thế; mà sự mừng ấy tưởng cũng chẳng lạ gì với nhân tình. Gặp “ca” này, kẻ làm con có khi động tình máu mủ thì cũng khóc ra được vài ba tiếng; nhưng bảo phải khóc đêm khóc ngày thì khóc làm sao được?

Ấy thế mà theo lễ thì sau khi cha mẹ chết, con phải khóc luôn, phải khóc cho ra máu (khấp huyết), lại còn phải nhịn ăn để cho lả người ra, rồi hàng xóm mới bưng cháo tới mà cho ăn…Tôi phải lấy làm lạ hết sức, không biết cái đầu óc của thánh hiền là đầu óc gì mà lại nghĩ ra được sự kỳ quặc như thế!

Trong khi chưa táng, mỗi lần tế, điện, phải có lễ sanh tán xướng. Khi xướng "cử ai" thì cả tang gia lớn nhỏ đều cất tiếng rống ồ ồ, phần nhiều chỉ rống khan mà không có được một tý nước mắt để làm thuốc. Tôi nhiều khi thấy thế thì nhận cho là một sự xấu hổ của cả loài người, vì trong loài người lại có hạng làm sự dối giả như vậy mà không biết thẹn!

Có thương thì khóc, không thương thì thôi; vả lại dù có thương đi nữa cũng phải đợi lúc nào nó bắt mình khóc mới khóc được chứ. Cái này, thình lình xướng “cử ai”, bảo người ta khóc, thì có ai sắm nước mắt chực sẵn hoài hoài được bao giờ?

Rõ thật cái lễ cử ai là một cái nghi văn giả dối; chỉ duy giả dối mà không có tội, khác với người làm bạc giả hay là văn tự giả!

***

Nhân vì lễ bắt khóc quá và bắt nhịn ăn cho lả người ra nên lễ lại phải sắm cho tang chủ một cây gậy: “cha tre, mẹ vông”. Cây gậy ấy, ngụ ý rằng kẻ làm con, tức tang chủ, đã liệt người vì sự khóc và nhịn ăn, nên không còn cử động được, phải chống gậy mà đi mới nổi. Lễ thì có ý vậy, nhưng kỳ thực cũng là giả dối nữa.

Hai chữ “khấp huyết” của người đời xưa là láo. Tôi không tin được rằng người ta vì khóc quá mà đến nỗi chảy máu con mắt ra. Cái khóc của họ đã không tin được thì cái nhịn ăn của họ cũng không tin được. Huống chi đương hồi cha mẹ chết mà làm con lại hành thân hoại thể như vậy, quá ra cũng chết nốt đi thì có phải là bất hiếu không? Vậy thì dù những sự ấy có thật làm được chăng nữa cũng chẳng đủ khen gì.

Chúng ta cũng là người như thánh hiền, chứ có phải là cục đất, cây cỏ đây hay sao mà lại không biết thương cha mẹ bằng họ? Có điều cái lễ của thánh hiền đặt ra đó, chúng ta thuở nay chưa hề có ai theo trọn được, ấy là vì cái lễ ấy nó không hiệp với nhân tình, không hiệp với tỳ vị chúng ta. Chúng ta không khóc ra máu được, không nhịn ăn được, chúng ta không hề lả người, vậy mà chúng ta còn giữ lấy cây gậy, cho nên cái phần giả dối này trở đổ về chúng ta chịu.

Tôi thấy trong nhiều đám tang, người trưởng nam cầm gậy đi trước, các thứ nam cầm gậy đi sau, họ chỉ cầm mà đi như người Tây cầm cái “can”, chứ không chống. Vì họ mạnh ù, có lả có liệt gì đâu mà chống? Chẳng những thế, mà trong khi đưa đám ấy, có đứa trẻ con nào đi xem, đùa nghịch một bên họ, là họ vác gậy lên phang chúng nó chạy mê tơi. Té ra lễ sắm cái gậy là để mà “dẹp đám” chứ có phải để làm gì! (c)

Trong tang lễ, còn những tư thôi, trảm thôi, giây rơm, mũ bạc gì lôi thôi nữa kia, bề nào sau này chúng ta cũng phải bỏ. Nhưng trước hết, có cái lễ "cử ai" và cây gậy, nó lòi ra sự giả dối tệ lậu quá, chúng ta nên bỏ trước đi.