TIỂU PHÊ BÌNH VỀ BÁO CHÍ

Huỳnh Thúc Kháng với Tiếng dân

Xứ ta từ hồi có báo đến giờ, chưa hề có một tờ báo nào sống được bảy năm rồi mà ông chủ nhiệm kiêm chủ bút của nó vẫn là một người, không hề thay đổi. Có chăng, chỉ báo Tiếng dân là một.

Ở đây tôi nói "tờ báo", đừng lộn với tạp chí. Chứ tạp chí thì có. Có Nam phong! Nam phong sống đến 13 năm mà cũng vẫn giữ một ông chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh. Giá ông Phạm không về làm thượng thư ở Huế thì có lẽ ông làm luôn hai thứ chủ của Nam phong cho đến mãn đời cũng nên.

Lại tôi nói "chủ nhiệm kiêm chủ bút" chứ không nói chủ nhiệm trơn, nên cũng đừng đem ông Nguyễn Văn Vĩnh chủ nhiệm của tờ Trung Bắc sống đã 21 năm ra. Ông Vĩnh chỉ làm một chức chủ nhiệm, còn chủ bút có người khác.

Thật thế, duy có Tiếng dân là đeo lấy ông chủ nhiệm kiêm chủ bút của nó, Huỳnh Thúc Kháng tiên sinh, tới năm nay là bảy năm rồi.

Nói thế cho biết ông Huỳnh đối với tờ Tiếng dân có cái quan hệ đặc biệt. Hoặc giả có một ngày vì tình thế riêng mà ông Huỳnh tự động rời Tiếng dân ra thì có; chứ ông Huỳnh còn đó mà Tiếng dân rời ông ra thì không có.

Cái quan hệ lớn như thế là bởi từ hồi tờ báo ấy mới dựng lên. Bấy giờ ở Trung Kỳ chưa hề có một tờ báo nào cả, lại gặp cái lúc trong nước có lớp phong trào mới, ai nấy đương thiết có một cái cơ quan ngôn luận, nhân dịp ấy, ông Huỳnh đứng ra tổ chức một tờ báo luôn một cái nhà in nữa, không mấy nỗi mà thành công. Ông Huỳnh là người có tín nhiệm sẵn, tín nhiệm cả bên tài lẫn bên đức, cho nên tờ báo của ông ra một cái là thiên hạ hoan nghinh. Chẳng những hoan nghinh một cách thường thôi đâu mà lúc bấy giờ ‒ hoặc cả đến bây giờ nữa ‒ hình như người Trung Kỳ coi tờ Tiếng dân là một cái "hồn" chung vậy.

Bởi vậy, ông Huỳnh còn chủ trương Tiếng dân ngày nào thì Tiếng dân đứng vững như trồng ngày ấy. Tôi nói đứng vững chứ không nói phát đạt. Tôi nói thế là bởi tôi tin rằng nhờ con người của ông Huỳnh nên Tiếng dân chắc đứng vững; chứ còn lấy cái tài làm báo của con người ấy mà mong cho phát đạt thì khó lắm.

Ông Huỳnh làm việc thì thật siêng, hết lòng hết sức với bổn phận, đừng nói không chơi bời chi, cho đến một sự tiêu khiển nhỏ ông cũng không. Tốt lắm! Tốt thật! Nhưng ông phải cái tính bảo thủ và câu cẩn, khiến tờ báo của ông năm thứ nhất thế nào thì năm thứ bảy cũng thế, cả hình thức và tinh thần không hề nhích lên được một bước. Như thế mà nói gì phát đạt!

Ta thì nói vậy, nhưng còn ông, ông lại nói: "Tôi chỉ cầu cho đứng vững, chứ phát đạt mà làm gì?" ‒ Hay không! Làm báo sao lại không cầu cho phát đạt?

Đừng hiểu lầm lời ông. Ông nói vậy chứ kỳ tình ông cũng mong phát đạt lắm chứ. Có điều theo ông nghĩ, muốn cho phát đạt thì phải mở mang ra; trong khi mở mang đó mà rủi có lỡ tay lèo tay lái thì phát đạt đâu không thấy mà thấy hỏng. Chỉ có bấy nhiêu đó mà ông sợ, ông không dám khuých trương cái cơ quan ấy chút nào hết. Thật, bảo thủ và câu cẩn, hai cái mỹ hiệu ấy gia cho ông, đúng lắm mà!

Trong truyền thuyết (légende) Tàu có tích "Bành tổ quan tỉnh", nghĩa là "Bành tổ xem giếng". Nói ông Bành tổ mỗi khi muốn xem dưới giếng thì ông bảo người nhà vác cái nong ra, đậy trên miệng giếng, rồi ông mới khoét một cái lỗ, dòm xuống xem; nhờ cái tánh cẩn thận đó mà ông sống lâu tám trăm năm! ‒ Ông Huỳnh cũng vậy, nhờ cái đức bảo thủ và câu cẩn của ông mà Tiếng dân sống lâu bảy năm rồi!

"Một con ở trong tay hơn mười con bay trên trời", ‒ ấy cũng là một lối ở đời, một lối làm việc. Nhưng mà uổng, có thế làm được mà không làm, uổng!

Đây phải có ít lời nói đến chính mình tờ Tiếng dân. Nhưng nếu dùng hai chữ "đứng đắn" mà khen nó thì cũng bằng thừa. Đứng đắn đến Tiếng dân là rất mực, còn khen gì nữa? Ai lại khen nước lỏng?

Nhưng bảy năm nay, Tiếng dân không hề có một lần nào "mang tiếng" hết. Cái cũng là cái khó. Phải nhìn cho đó là kết quả của sự đứng đắn mà sự đứng đắn bền đỗ, sự đứng đắn của cả đời.

Tuy vậy, về tiểu tiết thì cũng có điều không được đứng đắn, là báo ấy lâu lâu lại có bài công kích ngầm người nầy kẻ kia. Cách công kích ấy dở lắm. Có nói ngay vào mặt người ta thì nói, không thì thôi, việc gì lại phải "đá mèo khoèo rế"? Đá mèo khoèo rế là thói đàn bà, nhưng đàn bà nào kia, chứ "đàn bà này" (a) cũng không thèm, huống nữa là cụ Huỳnh, đường đường một vị lão thành, chủ bút Tiếng dân!

Chứng cứ? Đợi lúc nào Tiếng dân có cãi sẽ chỉ ra. Bằng không thì chỉ nói thế cũng đủ.

Văn của Tiếng dân, lối văn cũ quá, hay dạy luân lý bằng cách trừu tượng; lại hay dùng thí dụ nhằm những chỗ không đáng dùng. Thấy nhiều người nói đọc nó lắm khi phát chán, nhưng vẫn đọc, là vì cảm tình đối với cụ Huỳnh. Đó, lại thấy Huỳnh tiên sanh với Tiếng dân là quan hệ.

Đến sự dùng chữ nho thì thiên hạ phải kêu. Làm sao lại mỗi bài mỗi có đút chữ nho vào mới được? Đừng nói cụ Huỳnh thì là phải giỏi chữ nho; cụ Huỳnh mỗi đêm mỗi đi rồi cụ cũng phải gặp ma cho mà xem.

Vừa rồi Tiếng dân trong bài nói về việc bầu cử dân biểu cũng đút vào 30 chữ nho vỏn vẹn, mà trật hết 10 chữ. "Vị tri cô thực tánh, tẩy thủ tác canh thang", đó là dẫn câu thơ cổ mà dẫn sai, hóa không có nghĩa. Số là, trong bài thơ cổ ấy có bốn câu này: "Tam nhật nhập trù trung, tẩy thủ tác canh thang; vị am cô thục tánh, tiên khiển tiểu cô thường". (1)  Là nói gái mới về làm dâu: đủ ba ngày vào trong bếp, rửa tay làm canh riêu; vì chưa quen cái tánh ăn của bà gia, nên trước bảo cô em chồng nếm thử. ‒ Thế mà dẫn hai câu như vậy, thành ra: chưa biết tánh ăn của bà gia, rửa tay làm canh riêu, ‒ thì còn có ý nghĩa gì đâu?

Trong bài này, ngoài cái tốt mà tôi khen ông Huỳnh và Tiếng dân ra, tôi chê có ba cái xấu, là: không làm cho báo phát đạt; hay công kích ngầm; hay dùng chữ nho. Hai cái sau, nếu ông chủ Tiếng dân cũng nhận là thế thật, thì ông sẽ chừa bỏ đi, không khó. Duy cái thứ nhất là cái gốc bởi thiên tánh, dù có biết cũng không thể làm thế nào được.

Thế thì tôi lại mong Huỳnh tiên sinh cứ giữ cái tính bảo thủ và câu cẩn ấy luôn mà hay. Thà cứ vậy mà Tiếng dân được đứng vững.