PHỤ LỤC 1

TỒN NGHI

CÁC TÁC PHẨM CÓ THỂ LÀ CỦA PHAN KHÔI

DÂN TỘC VIỆT NAM

DƯỚI MẮT MỘT SỬ GIA NHẬT BẢN

(LẤY TRONG SÁCH “PHÁP-VIỆT GIAO BINH KÝ”)

Ông Tăng Căn Tuấn Hổ, người Nhật Bản sống ngang đời vua Tự Đức ta, có làm ra một cuốn sách chép cuộc chiến tranh của nước Nam với nước Pháp thời bấy giờ, gọi là Pháp - Việt giao binh ký.

Sách chép bằng chữ Hán, xuất bản tại Đông Kinh, kinh đô Nhật Bản, vào năm Minh Trị thứ mười chín, tức là năm 1886.

Theo lời tác giả nói ở bài tựa sách ấy, ông Tăng Căn Tuấn Hổ vì thấy các cường quốc Âu châu thì lấy làm lo mà đã đứng ra lập một cái hội, lấy sự binh vực các nước Đông phương làm mục đích, gọi là “Hưng Á hội”; cho đến biên tập cuốn sách nầy, ông cũng chỉ vì một ý toan kêu gào các chí sĩ châu Á ra tay cứu giúp một nước đương ở trong cảnh nguy vong là nước Việt Nam.

Tác giả có giao du với nhiều bậc anh tài Trung Hoa thời ấy, như Vương Thao, một nhà làm báo trứ danh ở Hương Cảng. Ông họ Vương nầy lại là người quen biết, hay thơ từ đi lại với mấy vị đại thần nước ta thuở đó, như ông Phạm Phú Thứ, ông Nguyễn Tư Giản. Vì đó, khi ông Nguyễn Thuật đi sứ sang Tàu, nhờ Vương Thao giới thiệu, có được đọc qua bản cảo Pháp - Việt giao binh ký và có để ít nhiều lời duyệt bình ở trong. Thế rồi khi đem in cuốn sách này, ngoài sự đứng tên của tác giả, người ta cũng có đề tên Nguyễn Thuật, Hà Đình, người Việt Nam đứng hiệu duyệt kế sau Vương Thao, người Tàu đứng san toản. Và trong sách thỉnh thoảng cũng có những lời phê vắn tắt của ông Nguyễn Thuật, nhưng ít lắm.

Sách Pháp - Việt giao binh ký lưu truyền qua xứ ta chừng không có mấy cuốn. Chúng tôi có thấy một cuốn ở tủ sách của trường Viễn Đông Bác cổ Hà Nội, bèn sao lấy nguyên văn.

Nó là một tài liệu rất quý cho sự tu sử Việt Nam vào thời đại giao thiệp với người Pháp. Nhưng sự ấy còn đương đợi... Bây giờ đây, chúng tôi thấy ở đầu sách ấy có mấy đoạn nói về tánh tình phong tục của dân tộc Việt Nam, vẫn biết có nhiều điều đã sai vì thời gian nhưng cũng có điều vẫn còn đúng, nên chúng tôi dịch trước ra đây để làm một món quà cho bạn đọc.

Món quà ấy tức là một cái gương để soi. Mà thứ gương do người Nhật Bản chế tạo, tốt lắm, có tiếng lắm.

***

 

Đây nhẫn xuống là lời trong sách ấy.

 

Người An Nam thân thể gầy còm, tinh thần suy yếu, tuy có khi sấn sướt làm mình ra mạnh mà rồi cũng trở nên biếng nhác tức thì. Có lẽ tại họ không có lòng kiên nhẫn. Bởi vậy, những việc khó nhọc lắm và phải làm lâu lai thì họ ắt không kham.

Người An Nam phần nhiều nhỏ thó, cái mặt trẹt, cái tai phẳng, cái mũi thấp, con ngươi đen, hơi giống người Tàu. Da họ hơi đen, có lẽ là bởi những kẻ đó làm ruộng và dang nắng. Chớ còn như những người sang và các cô gái trẻ thì da cũng có trắng. Tuy vậy, đại để An Nam không có người đẹp. Người nào da trắng thì trắng như sáp, còn đen thì như đồng đen. Cũng có người da hơi vàng, giống người Mông Cổ. Con trai con gái hồi còn trẻ tuy cũng có vẻ đậm đà dễ coi, nhưng sau khi có vợ có chồng rồi thì tuồng mặt đổi hẳn, không còn được như trước nữa. Cũng có nhiều kẻ tốt tóc, nhưng ngoài hai mươi tuổi thì tóc đã trở nên xô xảm, không láng ngời nữa. Họ thường búi tóc. Kẻ nào ưa làm dáng thì hay búi bằng chang, con trai con gái đều như vậy. Nhiều người mặt mày xấu xí, cách đi đứng quê kệch, lại từ đỉnh đầu đến gót chân, thường lộ ra những nét cong queo nghiêng lệch. Đó là tại hồi còn nhỏ, người mẹ hoặc người vú hay để đứa trẻ chàng hảng hai chân ngồi lên trên hai chân của mình mà cho ăn cho bú, nên lâu ngày rồi nó như thế.

(Chỗ nầy có lời phê của ông Nguyễn Thuật, in chữ nhỏ, chia làm hai hàng ở dưới).

Nguyễn Thuật nói rằng: Dân cày và đàn bà nhà quê mới có nhiều người tuồng mặt xấu xí; chứ còn các hàng quan thân văn sĩ hầu hết người nào cũng có nghi dung tuấn tú, không phải xấu xí cả đâu.

Trong nước An Nam, quyền lợi con gái không bằng con trai, tính tình cũng ôn hòa hơn. Sự đó thì nước nào cũng vậy, không lấy làm lạ. Nhưng ở An Nam thì về phần đàn bà con gái, sự ăn nói đi đứng không có quy củ, không được chỉnh tề. Vậy mà cũng chẳng ai chú ý đến. Họ thường ăn trầu cau hoặc trái trám, cho nên răng đều vàng ra hay đen đi. Đàn bà họ lại ưa dùng đồ trang sức bằng ngà voi.

(Chỗ nầy có lời của ông Nguyễn Thuật).

Nguyễn Thuật nói rằng: ăn trầu thì có; còn trái trám thì là thức ăn phụ, coi như đồ gia vị, chớ không dùng để ăn thường.

Về y phục, đồ mặc thường của người An Nam quá chật. Nhưng, đàn ông mặc như thế thì được tiện và nhanh nhẹn. Đàn bà, áo dài hơn đàn ông, may bịt bùng hết, không có chỗ hở da. Đó là vì ngừa thói dâm của phụ nữ mà khiến họ có sự bất tiện. Lễ phục thì hai tay áo dài và rộng. Đàn ông đàn bà đi ra ngoài đều đi chân không. Duy có ông già cùng người đàn bà làm tốt thì có mang giày, mà giày thì ngắn, khi mang vào, thường để hai gót ra ngoài, cho nên dáng đi cũng xấu xí. Từ ngày có người Pháp đến ở trong nước, người An Nam nào có thông hôn với người Pháp thì có đi giày đen và tất trắng. Đàn ông, đầu đội khăn; đàn bà dùng cái nón lớn để che nắng che mưa. Dân thường thì dùng một miếng vải nhỏ che trên đầu; khi đi ra đồng, đội nón lá; còn miếng vải nhỏ, vắt trên vai để thay khăn tay. Đó là điều không giống với nước nào hết.

Người An Nam lại có dùng cái dải trắng và đỏ đeo hai cái đãy ngang lưng, đó cũng là điều khác với các nước nữa. Trong đãy chứa trầu cau, trái trám, để ăn. Khi ra ngoài, đeo hai cái đãy trên vai. Trong nhà thì trưng bày những đồ như cái hộp bằng đồng hoặc bằng bạc để đựng trầu cau cùng vật ăn được.

(Chỗ nầy lại có lời ông Nguyễn Thuật).

Nguyễn Thuật nói rằng: Cái tục mang đãy nay không còn có nữa.

Nhà làm nhỏ hay lớn, cao hay thấp là tùy người giàu nghèo sang hèn khác nhau. Đại khái nhà đều ủm thủm xấu xí; cột dùng gỗ, nghèo thì dùng tre. Trên nhà, lợp bằng lá dừa nước, hoặc tranh, hoặc rạ; cũng có lợp ngói, nhưng phải là giàu mới lợp ngói được. Trong nhà chia làm mấy ngăn, ngăn bằng ván hoặc phên. Bốn phía tường dùng ván, có khi dùng lá dừa, nên hay bị mất trộm lắm. Đồ vặt trong nhà không có mấy, vài ba bộ ván hoặc giường để mà ngồi nằm, lại với tủ hoặc rương để đựng quần áo. Nhà giàu sang thì có cái kỷ nhỏ, bày đồ trà để đãi khách.

Người An Nam không thiếu gì người có tài có trí. Họ có tánh giỏi nhớ. Tuy họ chưa có thể vào sâu trong mọi sự, chứ được cái học mau biết. Người Pháp đến An Nam mới mười năm nay mà người An Nam học tiếng Pháp cũng đã đủ dùng, nói chuyện thường không đến nỗi ngập ngợ; vả lại viết bằng chữ Pháp cũng được nữa.

Người họ không phải là không dũng khí. Nếu cai trị có phương pháp, lấy pháp luật mà chỉnh tề, lấy đạo nghĩa mà cố kết họ thì sự dũng cảm của người An Nam được việc lắm, sẽ không có người nước nào ở Đông phương nầy bằng họ được. Nay vì sự cai trị lỗi phương, trên dưới đều không noi đường chánh, cho nên lòng người tàn bạo và khinh bạc thật hết chỗ nói. Coi như giữa chỗ pháp trường, người An Nam đến coi tuy thấy sự thảm khốc trước mắt mà họ vẫn đứng hút thuốc tự nhiên, không hề có vẻ thương xót. Như thế là vô tình quá lắm, chứ có phải dũng gì đâu!

Người họ ưa giữ theo tục cũ những mấy trăm năm về trước. Sự ấy đã thành ra thói quen, không làm sao chữa được. Nhưng có một điều đáng quý là biết kính người trên và giữ pháp luật. Từ khi có giao thiệp với người Pháp, họ dần dần bỏ mất cái tính vâng lời ngoan ngoãn ấy đi mà lại cho mình như thế là khai minh tiến bộ thì thật đáng tiếc. Tuy vậy, những người Pháp ở An Nam lại còn ngang ngạnh quá người bản xứ nữa, người An Nam có thế nào cũng còn là hơn họ. Đối với người Pháp, người An Nam tuy có vâng lời cũng chỉ bề ngoài thôi, chứ thật ra thì ai nấy đều “dạ trước mặt, trỏ cặc sau lưng” vậy. [HẾT KỲ 1]

 

Coi bề ngoài thì người An Nam trong các xứ đều không khác nhau lắm. Nhưng xét kỹ mới thấy tài trí và dũng lực của người Nam Kỳ thật thua xa người Bắc Kỳ. Người Nam Kỳ gặp cảnh nghèo không chịu nổi, mà đến lúc giàu cũng không biết giữ cho bền. Người nước họ hạng trung bình, không giàu mà cũng không nghèo, thì cai trị không khó mấy. Đến những kẻ siêng ăn nhác làm, ham chơi bời quá chẳng may sa sẩy, hễ mất chỗ sinh nhai là hóa ra ăn trộm. Lại có kẻ nhờ thời may làm nên phú quý thì hay khoe khoang kiêu ngạo, làm phách với người dưới mà lờn mặt với người trên. Cho nên người ta hay nói: “Người An Nam không biết xử cảnh nghèo mà cũng không biết xử cảnh giàu”. Tóm lại, những sự ấy đều bởi tại giáo hóa chưa đến nơi.

Nguyễn Thuật nói rằng: Nghèo khổ mà đi ăn trộm, giàu sang mà đổ ra kiêu sa, đó chẳng qua trăm ngàn người mới có một hai người như vậy. Không phải hết thảy người An Nam đều thế cả. Cái đó cũng giống như các nước.

Người bản xứ hay đổi nghề. Có thể bảo họ là “vô hằng tâm”. Người nào thấy một việc gì trúng ý mình thì nôn nả làm liền, lúc đầu dù có nhọc nhằn mấy cũng ráng chịu. Đến vài tháng hoặc vài năm, đã thấy lộ vẻ biếng trễ rồi, rốt cuộc công việc phải bỏ dở. Khi bỏ rồi, thấy không có nghề làm, lại muốn trở lại nghề cũ. Cái thói ấy, người Pháp muốn trừ đi cho họ, nhưng vì mới đến ở, chưa có thể được.

Đàn ông họ không có ý tự cường, trở không bằng đàn bà con gái. Phụ nữ Việt Nam có tài gánh gồng buôn bán ở các nơi phố chợ. Còn chồng họ thì ở nhà uống rượu nói chuyện với bạn bè hàng xóm, ngồi không mà hưởng của vợ làm ra. Cái thói ấy cho đến ngày nay thỉnh thoảng vẫn còn. Trẻ con mất dạy. Chúng nó cũng có học, nhưng chỉ học qua loa những sách dễ dễ của người Tàu. Người lớn không biết cách chỉ bảo trẻ con. Chúng có lỗi cũng không hay răn phạt. Bởi vậy trẻ con đều hung tánh, đến lúc lớn cha mẹ đối với chúng cũng chịu phép.

Con gái 14 tuổi giở lên, đã cho đi chợ bán hàng, ra chỗ đông người, rộn tai choáng mắt, sinh ra lắm điều tệ, thế mà cha mẹ cũng chẳng cấm ngăn, để muốn làm gì thì làm.

Đại khái người An Nam phần nhiều là ở dưng, không làm việc gì hết, hằng ngày cứ đi chơi bời, không kể tới việc làm ăn. Thế mà lại còn ưa đánh bạc và buôn thuốc a phiện. Thứ nầy ở nước họ cũng từng có cấm, nhưng cấm không được. Xứ Nam Kỳ nay đã thuộc Pháp mà người ở đó cũng vẫn chưa chừa được a phiện, vì vậy người họ mỗi ngày một suy mòn.

Người An Nam không có ý nỗ lực tấn tới, mà lại còn không biết biện biệt sự lợi hay hại, nên hay hư. Việc buôn bán trong nước, họ đều phó cho người Tàu, không ngó ngàng đến. Người Tàu ở đó hay rủ nhau hùn vốn lập công ty để buôn. Buôn có lời, họ lại chia ra và lập thêm công ty khác. Còn người bản xứ thì sẵn tánh khinh bạc, hay nghi ngờ nhau, chống báng nhau, không lập công ty được; cho nên mối lợi trong nước đành phải để cho người Tàu tóm thâu. Người trong nước ưa lấy sự trá ngụy để lừa dối nhau, không ai tin ai được cả. Rất đỗi bà con quen thuộc cũng không có thể tin cậy nhau được. Đây thử cử ra một sổ vay nợ để làm chứng: Người cho vay đặt ra quy điều để ngừa giữ rất nghiêm nhặt, nhưng thường không khỏi bị gạt. Vì họ cho vay ăn lời nặng quá, có khi số lời gấp đôi số vốn, thì dễ gì mà trả được? Té ra sự gạt nợ cũng tại chủ cho vay tự mình chuốc lấy.

Họ ưa âm nhạc lắm, trong khi tế tự cũng chịu làm sự ồn ào. Có lần trong nhà thờ đạo Thiên Chúa, giáo đồ muốn dùng chuông trống trong khi làm lễ, các cố đạo không cho, thế mà bị họ phi nghị. Lại khi đưa đám tang, khóc lên ồ ồ, rất là vô vị.

Người An Nam đến sự ở nhà bầy hầy, mặc áo quần dơ bẩn thì thôi, khắp thế giới không nước nào bằng! Cũng có kẻ mặc đồ hàng lụa, áo kép, áo lót, nhưng vẫn như là lam lũ. Thật ra thì kiểu y phục của họ không thích hợp với mùa lạnh mùa nóng, còn nhà thì không thích hợp với sự ăn ở. Họ hay ăn mặn quá hoặc cay quá, chua quá, cũng có tại đó mà thể chất trở nên yếu đuối, tâm thần trở nên thất thường. Lại thêm khí hậu không tốt, làm cho người suy nhược. Người An Nam ít sống lâu, trẻ con phần nhiều không nuôi được. Họ đẻ con rất dễ dàng, nhưng vì ăn ở bẩn thỉu, không biết vệ sanh cho nên chúng hay chết non. Từ ngày biết phép trồng đậu, trẻ con cũng có bớt chết. [HẾT KỲ 2] [a]

(còn nữa)

NG. dịch

Nguồn:

Sông Hương, Huế, S. 31 (20 Mars 1937), tr. 1, 8; s. 32 (27 Mars 1937), tr. 1. 

Chú thích

[a] Bài này ký bút danh NG., có thể là một bút danh của chủ bút Phan Khôi trên Sông Hương.