PHỤ LỤC 1

TỒN NGHI

CÁC TÁC PHẨM CÓ THỂ LÀ CỦA PHAN KHÔI

PHÊ BÌNH

PHAN ĐÌNH PHÙNG CỦA ĐÀO TRINH NHẤT

Cái phong trào lịch sử nổi lên bồng bột hai năm 1934-1935 để rồi phải vùi lấp một cách mau lẹ và bất ngờ dưới những luồng sóng khác, nay như muốn bắt đầu nhóm lại: nhắc chuyện xưa, ấy là công việc của một số nhà văn gần đây.

Tôi không phải không nhìn nhận là cần sự sống lại những việc của dĩ vãng, nhưng sống trong giới hạn nào, đó là điều tôi muốn người ta phải thận trọng.

Cái quá khứ đối với ta vẫn quan hệ, nhưng chẳng nên vì thế mà bạ cái gì, ta cũng ôn lại được, vì sợ sẽ làm một việc vô ích và nguy hiểm. Cái hiện tại đầy dẫy những cái cần phải giải quyết buộc chúng ta luôn luôn để tâm đến nó. Lịch sử, nếu giúp được ta trong việc ấy, mới có ích cho ta mà thôi; ngoài ra, nó chỉ làm cho ta xao nhãng cuộc đời đương sống. Một nhà văn sĩ cách mệnh Đức có nói rất chí lý: “Ta chỉ nên suy tầm về dĩ vãng trong trường hợp nó biểu lộ như một yếu tố của hiện tại”. Hay nói một cách khác: Từ dĩ vãng, ta chỉ nên lấy những cái có thể làm bài học cho hiện tại mà thôi.

Chính với cái quan niệm về lịch sử trên đây, tôi đã nhìn thấy quyển Phan Đình Phùng của ông Đào Trinh Nhất, và sẽ phê bình nó.

Một trang lịch sử cận đại hệ trọng như cuộc khởi nghĩa của nhà lãnh tụ đảng Văn thân mà từ mấy chục năm nay không làm được đối tượng cho một thiên khảo cứu, nghĩ cũng đáng buồn cho nền sử học xứ nầy. Nói thế, tôi vẫn không quên năm xưa, trên một tờ hằng ngày ở Hà Nội, đã thấy đăng thiên lịch sử ký sự đề là Ông Phan Đình Phùng; nhưng cái tác phẩm ấy không thể làm cho người ta mãn nguyện, bởi nó xây trên những tài liệu rất sơ sài và lối xếp chuyện thiếu hẳn nghệ thuật. Quyển của ông Đào Trinh Nhất vừa cho ra đời có thể bổ vào chỗ khuyết điểm đó.

Đọc tác phẩm của ông Đào, người ta thấy ngay không phải là một công trình hoàn thành một cách sắp xếp, mà là kết quả của một cuộc khảo cứu rất dày công. Tác giả, ngoài những tài liệu tìm được trong sách, đã chịu khó lần mò đến quê hương nhà cách mạng họ Phan, đến những nơi xưa kia chứng kiến cuộc vẫy vùng của vị anh hùng, sưu tầm tất cả những điều cần thiết để gây dựng một cách đầy đủ quyển sách của mình. Nào gia thế, lúc thiếu thời cụ Phan, cảnh hỗn loạn trong triều dưới chế độ độc tài của hai quyền thần Tường, Thuyết, việc kinh đô thất thủ và vua Hàm Nghi chạy trốn, nào buổi đầu cuộc khởi nghĩa, cách tổ chức binh bị, những trận huyết chiến với quân Pháp, những bước gian nan để đi lần đến cảnh suy bại, những bức thư, những bài thi, những văn tế, mỗi mỗi đều biểu lộ sự dồi dào của tài liệu, sự nghiên cứu rất tinh tường của tác giả.

Nhưng tôi không muốn nhìn lâu cái đặc sắc của người viết truyện Phan Đình Phùng ở chỗ đó. Cái mà chủ ý tôi định đem ra khen ông là sự ông như nhận thấy cái nguyên nhân trọng yếu đã làm cho nghĩa quân cầm cự ngót mười năm trời mới chịu quy hàng Chính phủ. Nguyên nhân ấy, tác giả gọi là lòng người. Lòng người hay sự ủng hộ của dân chúng, chỉ có một. Thực thế, cuộc khởi nghĩa của ông Phan sở dĩ kéo dài một cách oanh liệt, là nhờ toàn thể dân chúng, từ kẻ nghèo hèn đến bậc giàu sang, ủng hộ. Vẫn biết cuộc đắc thắng của nghĩa quân là nhờ ở sự tinh xảo của chiến cụ, sự dũng cảm của binh sĩ, sự hiểm trở của địa thế, nhưng một phần lớn do những lời khích lệ, những cuộc trợ quyên ngấm ngầm về lương thực hay tiền bạc của những người có lòng ái mộ, nói tóm lại, mối cảm tình của dân gian, lúc bấy giờ đều nuôi một hy vọng là đem lại hai chữ độc lập cho vua, nước. Về sau, ông Phan thất bại, cũng chỉ vì Pháp quân biết đánh vào chỗ yếu ấy của ông, là lòng người: tiếp theo cuộc trừng trị những người bị tình nghi mật giao với nghĩa quân, là sự kém nhuệ khí, sự thiếu lương thực giữa binh sĩ, nó đưa dần đảng Văn thân đến bước đường cùng vậy.

Lòng người! Thật quả như lời tác giả nói, đó là món khí giới mạnh không gì bằng đã giúp ông Phan Đình Phùng chống cự quân Bảo hộ và làm cho họ khủng khiếp đằng đẵng ngót mười năm. Cái vinh dự cho quân Cần Vương trong một khoảng thời gian ấy, lúc bấy giờ và sau nầy, không một cuộc khởi nghĩa nào chiếm được, ấy cũng chỉ tại thiếu sự ủng hộ của dân chúng. Sau nầy, bốn mươi năm, bởi thiếu sự ủng hộ của dân chúng mà cuộc biến động ở Yên Báy thất bại chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, và do thế, có tính cách một cuộc binh biến hơn là một cuộc khởi nghĩa.

Đọc ông Đào Trinh Nhất, tôi chỉ bực một điều là ông hay lý luận, hay bàn, như có người đã chỉ trích ông. Ông ưa suy đoán về tâm lý của các vai trong truyện, tự hỏi rồi tự trả lời về những nguyên nhân, những việc xảy ra. Nhưng ông lầm. Cái chủ quan của ông nhiều lắm: những lời bàn của ông chẳng những làm giảm cái hương vị của câu chuyện, có khi như không thể đúng sự thực nữa. Viết báo khác mà viết lịch sử ký sự khác, ông chớ nên đánh xô bồ hai cái làm một. Người viết ký sự chỉ có một việc là kể chuyện, kể cho hay, để cảm khích, lôi kéo người đọc; và thỉnh thoảng, nếu cần để cái chủ quan của mình vào, phải để một cách kín đáo, khôn khéo.

Quyển Phan Đình Phùng dày 292 trang, in bằng chữ R.10. Với cỡ chữ ấy, tôi có thể làm tác phẩm của ông Đào mỏng bớt vài trang. Tôi muốn nói rằng văn của ông chưa sạch, nó đầy dẫy những chữ thừa, dồn lại, đem bỏ ra sắp lại cũng được vài trang. Thực thế, ông Đào viết cẩu thả quá, không chịu để ý đến sự đặt câu cho gọn, dùng chữ cho chỉnh, luôn luôn đặt những chữ đôi đồng nghĩa có vẻ đối nhau như lối văn xưa. Nói tóm một câu, là ông viết luông tuồng, như người ta nói miệng vậy.

Với những điều chỉ trích nầy, thực tôi không có ý mạt sát tác giả quyển Phan Đình Phùng. Trái lại, tôi chẳng đã khen ông rồi đó ư? Vì với mớ tài liệu dồi dào ấy, với cái quan niệm về nguyên nhân cuộc đắc thắng của Nghĩa quân ấy, với lối dàn truyện tuy chưa được khéo nhưng kể cũng gọn gàng ấy, nếu viết cẩn thận, tôi cam đoan ông Đào Trinh Nhất sẽ biến chúng ra một tác phẩm hoàn toàn hơn. [a]

P. T. T.

Nguồn:

Sông Hương, Huế, S. 31 (20 Mars 1937), tr. 1, 8; s. 32 (27 Mars 1937), tr. 5. 

Chú thích

[a] Bài này ký bút danh P. T. T., một trong những bút danh có thể là của chủ bút Phan Khôi trên Sông Hương.