PHỤ LỤC 1

TỒN NGHI

CÁC TÁC PHẨM CÓ THỂ LÀ CỦA PHAN KHÔI

NGOẢNH NHÌN VĂN HỌC NĂM VỪA QUA

Trên con đường trường, kẻ bộ hành lo lắng, chốc chốc ngoái cổ nhìn lại quãng đường bỏ sau mình, như để tính xem còn phải đi bao xa nữa thì đến đích: nếu quãng đường ấy đã được khá dài, người không khỏi lộ vẻ vui mừng.

Bước sang đầu năm 1937, chúng ta cũng nên làm như kẻ đi đường kia, thử ngoảnh nhìn lại năm vừa qua, xem về văn học, chúng ta đã tiến đến bực nào.

Nhớ trong số đặc biệt mùa xuân năm 1934 của một tờ hằng ngày xuất bản trong Nam, có bài nói về nền văn học Việt Nam năm 1933, đại ý cho rằng nước ta có văn học họa chăng bắt đầu từ năm ấy, còn trước kia dù có, kể cũng như không, vì nó bạc nhược, sơ sài, rời rạc quá; ‒ năm ấy là năm người ta đầu tiên thấy xuất hiện, về tiểu thuyết cũng như về thi ca, nhiều tác phẩm có giá trị hẳn hòi về nghệ thuật, như quyển Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, Người sơn nhân của Lưu Trọng Lư, thơ của Thế Lữ, của Huy Thông, của Nguyễn Xuân Huy, v.v...

Đến nay đã ba năm qua. Trong khoảng ba năm, sự tiến bộ rất rõ rệt về đằng phẩm cũng như về đằng lượng của nghề trứ thuật trong nước, khiến chúng ta, dù đến những kẻ hoài nghi, cũng phải nhìn nhận rằng nền văn học Việt Nam đương bước vào một kỷ nguyên mới, nó là điểm đầu của một cái tương lai rực rỡ, xán lạn. Và lời phỏng đoán trên kia, do thế, có thể nói được là xác đáng vậy.

Sự thịnh vượng của năm 1936 vừa qua là ở cái đà của ba năm trước mà có. Những kết quả tốt đẹp, những sự thành công vẻ vang đã làm cho người ta càng thêm hăng hái và phụng sự văn nghệ một cách chắc chắn và đắc lực. Thực ra, sự thịnh vượng ấy, nói đến có lẽ hơi buồn, chỉ ở trong phạm vi tiểu thuyết, chứ ngoài ra, về các môn khác, vẫn còn là cái cảnh tượng những đám đất hoang. Thành thử hai chữ văn học vốn nghĩa rộng là dường nào, thế mà ở nước ta, nó như phải thu nhỏ hình lại: đó là một điều kém sút có lẽ còn lâu lắm chúng ta mới bồi bổ được.

***

Về tiểu thuyết năm vừa qua, chúng ta cũng vẫn thấy các nhà văn cũ đã được hoan nghinh mấy năm trên tranh nhau mối cảm tình của bạn đọc. Sau một thời kỳ kinh nghiệm, trên con đường nghệ thuật, quả họ đã bước một bước khá dài. Những tác phẩm như Đời mưa gió của Khái Hưng và Nhất Linh, Tối tăm của Nhất Linh, Giọc đường gió bụi, Tiêu Sơn tráng sĩ, Trống mái của Khái Hưng đều là vật đảm bảo chắc chắn cho cái biệt tài hai nhà văn của Văn đoàn Tự Lực. Nhất là Khái Hưng, với những quyển sách mới của ông, càng tỏ ra một cây bút mà cái giá trị cứ tuần tiến theo thời gian. Nguyễn Công Hoan, nhà văn của báo Tiểu thuyết thứ bảy, năm trên đã từng nổi tiếng vì quyển Kép Tư Bền, phải cái không đều và hình như chỉ có thể thành công trong những truyện ngắn “có màu mè” như ông thường viết, nên đã hai lần thất bại trong hai truyện dài: Cô giáo MinhTắt lửa lòng. Nhưng đã có một nhà văn khác, cũng của báo ấy, ông Thanh Châu, có thể hứa rất nhiều với chúng ta, tuy quyển Trong bóng tối mới là tác phẩm đầu tiên của ông. Lưu Trọng Lư trong năm vừa qua, chỉ xuất bản được một quyển Khói lam chiều, song cái tác phẩm ấy chỉ tổ làm giảm giá trị tác giả Người sơn nhân đi mà thôi. Để đối chọi với nhà văn suốt đời mơ mộng ấy, có lẽ tôi nên nhắc đến tên ông Vũ Trọng Phụng, người chỉ ưa nhìn bộ mặt thực của xã hội, dù nó rất xấu xa. Tuy về tiểu thuyết, tác giả thiên phóng sự rất có giá trị Kỹ nghệ lấy Tây chưa cho xuất bản quyển nào, nhưng cứ đọc những tác phẩm của ông viết trong năm trên các báo, chúng ta có thể đánh giá được văn tài ông. Riêng bạn đọc Sông Hương đều đương được thưởng thức cái văn tài ấy trong truyện dài Làm đĩ, nó biểu dương một nghệ thuật rất cao vậy.

Thực như ta đã thấy, không có năm nào mà sức sản xuất về tiểu thuyết lại dồi dào bằng năm vừa qua. Ấy là trên đây, tôi chỉ mới lược kể, chứ còn có nhiều tác phẩm, hoặc trong lúc viết bài nầy tôi không nhớ ra, hoặc vì một lẽ, tôi muốn dành lại để nói sau nầy. Sự phát đạt ấy, tôi muốn ghép cho nó một cái động lực: lòng cạnh tranh của các nhà văn và nhà xuất bản. Phải, cạnh tranh, sự cạnh tranh ấy rất rõ rệt và cũng rất chánh đáng: nhà buôn cạnh tranh để nền thương mại được hưng thịnh, thì nền văn học cũng nhờ các nhà văn cạnh tranh mà thêm dồi dào. Các văn đoàn đã thi nhau mọc lên như nấm, nhưng vì lòng a tòng nhiều hơn vì quan niệm về văn nghệ: nào Tự lực, nào Phương Đông, nào Bình dân, nào Cấp tiến, nào Thanh niên, Thiếu niên, cho đến có một văn đoàn mang cái danh hiệu nghe buồn cười: Nỗ lực! Thực ra, trong bao nhiêu văn phái, chỉ có văn phái của bọn ông Nguyễn Tường Tam, nhờ ở giá trị các nhân viên của nó, là được quốc dân chú ý nhiều hơn cả. Văn phái Phương Đông của các ông Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư, lẽ ra được người ta biết đến, nhưng quyển Văn chương và Hành động gồm những lời tuyên ngôn của văn phái ấy, in vừa xong, chưa kịp bán, thì đã bị bóp chết ngay!

Và trong bao nhiêu nhà xuất bản, chúng tôi cũng thấy như chỉ có nhà xuất bản Đời nay, vẫn của bọn ông Nguyễn Tường Tam, là đã làm được nhiều việc. Những sách do đó ra đời, ngoài cái giá trị về nghệ thuật, lại còn có cái giá trị về mỹ thuật nữa. Trong năm vừa qua, nhà xuất bản ấy đã biểu thị một sức hoạt động ở xứ ta xưa nay chưa từng thấy. Cứ trong vòng một tháng hay ít hơn nữa, những tác phẩm liên tiếp nhau thấy ánh mặt trời. Ngoài ra, óc sáng kiến của họ đã làm cho những kẻ ít tiền cũng có thể mua được sách mà đọc: những quyển “Lá mạ” xinh xắn kia thực đã “giúp” cho anh em học sinh và thợ thuyền nhiều lắm.

Một nhà xuất bản khác gần đây tỏ ra hoạt động không kém, là nhà xuất bản Tân dân của ông Vũ Đình Long, chuyên cho ra đời những tác phẩm của các nhà văn hai báo Tiểu thuyết thứ bảyÍch hữu. Những quyển Phổ thông bán nguyệt san ra vào cuối năm, đăng những truyện Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan và Cô Tư Thung của Lê Văn Trương đều in rất đẹp.

Nhà xuất bản Phương Đông của phái ông Lê Tràng Kiều tuy nhiều lần đã muốn tỏ ra không chịu nhượng bộ hai nhà kia, nhưng những sách ở đấy ra đời thực ra hãy còn ít lắm. Tôi nhớ như trong năm vừa qua, Phương Đông mới xuất bản chừng được ba quyển mà một chưa lưu hành, đã phải cấm. Dù sao, với những truyện ngắn, truyện dài có cái phong vị lãng mạn như của Lưu Trọng Lư, Nguyễn Xuân Huy, hay tả thực như của Vũ Trọng Phụng, kế tiếp đăng trên Hà Nội báo, phái ấy vẫn có thể tự hào rằng đã góp một phần trong phong trào tiểu thuyết của năm rồi.

***

 

Về thơ, năm 1936 đã bày ra một cảnh tượng rời rạc, nếu không là buồn tẻ. Cái không khí bồng bột về thơ mới hai năm trên đã qua rồi. Những tên Thế Lữ, Huy Thông, người ta không nhắc đến một cách sốt sắng nữa. Mà giữa Nàng Thơ với các thi sĩ, hình như chữ tình cũng không còn được mặn nồng như mấy năm xưa. Huy Thông thì còn cho ra được một tác phẩm có giá trị là quyển Tiếng địch sông Ô, và thỉnh thoảng có thơ đăng trên một vài tờ báo, chứ Thế Lữ thì như đã chìm hẳn đi rồi: với tác phẩm Bên đường Thiên lôi mà ông vừa cho xuất bản, người ta thấy rõ như ông muốn từ nay đi hẳn về bên tiểu thuyết. Những quyển Gái quê của Hàn Mặc Tử, Thiên diễm tuyệt của Đỗ Huy Nhiệm ra đời vào cuối năm như đã đem lại cho làng thơ một cái không khí ấm áp.

Về phê bình, có thể nói rằng năm rồi đã trải qua một cơn khủng hoảng. Các nhà phê bình có tiếng suốt năm không thấy cho ra một quyển sách nào. Nhưng với quyển Hồ Xuân Hương của ông giáo Nguyễn Văn Hanh xuất bản trong Nam, thể phê bình ở nước ta năm vừa qua như nhuộm thêm một màu mới lạ. Lần đầu, chúng ta thấy ở xứ nầy người ta dùng lý thuyết toàn dục của giáo sư Freud để giải phẫu một tâm hồn kỳ lạ như tâm hồn của Hồ Xuân Hương.

Nhắc lại những cái đặc sắc của năm 1936, chúng ta cũng không nên quên rằng về triết học, chúng ta đã có được hai tác phẩm: quyển Nhân đạo quyền hành của ông Hồ Phi Thống và quyển Toàn chân triết luận của ông Nguyễn Duy Cần. Không kể những lý thuyết trong hai quyển ấy hay dở thế nào chứ người Việt Nam mà tự đứng chủ trương một triết lý, ấy cũng đã là một sự hiếm.

Nói tóm lại, nếu chúng ta ngoảnh nhìn lại năm vừa qua thì thấy nền văn học của ta chỉ phát đạt về tiểu thuyết mà thôi. Không lúc nào, sức sản xuất lại mạnh được như thế, và công trình ấn loát lại hoàn mỹ được như thế. Những tác phẩm có giá trị ra đời nhiều hơn mọi năm. Và cái nghệ thuật của các nhà văn ta, với năm 1936 cũng đã đến một trình độ khá cao rồi vậy.

Năm vừa qua là năm từ Nam chí Bắc đều nổi lên phong trào bình dân. Nhưng chẳng biết cái phong trào ấy có ảnh hưởng gì đến các nhà văn ta không. Quyển Tối tăm mà Nhất Linh đã vội vã cho ra đời, chẳng phải là một tác phẩm bình dân. Đó chỉ là một tác phẩm quý phái đội lốt bình dân mà thôi. [a]

P. T. T.

Nguồn:

Sông Hương, Huế, s. 26 (30 Janvier 1936), tr. 2.

Chú thích

[a] Bài này ký bút danh P. T. T., một trong những bút danh có thể là của chủ bút Phan Khôi trên Sông Hương.