40. Bạn đọc góp ý kiến về tập thơ Việt Bắc

 


a) NGUYỄN VĂN SÁNG (trung đoàn X.):

Tôi được biết và đã được đọc thơ Tố Hữu từ kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Qua mấy năm trường hoạt động trong hậu địch, sau những lần luồn giặc, đánh giặc chống càn quét khi trở về cơ sở, cán bộ, chiến sĩ và cơ sở gặp nhau bù khú, dí dủm trên ổ rơm là không quên ngâm thơ Tố Hữu, dù là anh lõm bõm năm ba câu, tôi thuộc vài ba đoạn.

Những đêm hành quân qua vùng tạm chiếm, ngồi nấp sau luống khoai chờ đợi vượt đường giây, tuy không được ngâm dù là se sẽ nhưng cũng ngâm trong tư tưởng một đôi câu thơ Tố Hữu thấy truyền cảm thu thú, nhè nhẹ nhưng mạnh mẽ và tin tưởng. Ðôi khi chui dưới hầm bí mật từ sáng sớm rồi chả biết trời đã tối chưa, những lúc chờ đợi mong mỏi thời gian trôi nhanh ấy, tôi nhớ rành mạch từng câu:

Bao đồng chí của ta bay đã giết
Chặt đầu cắm cọc phơi khô
Chị em ta bay căng thịt lõa lồ
Con em ta bay quăng chân vào lửa
Lúa ngô ta bay cướp về cho ngựa
Xóm làng ta bay đốt cháy tan hoang

Rồi lại nhớ luôn sang mấy câu thấm thía nhất trong mối tình anh em ruột thịt:

Xác ai nằm ngổn ngang
Bãi tuyết lặng quanh làng
Phố đổ nhà hoang vắng
Mẹ của em đấy ư?
Cái đầu lâu rũ tóc
Máu chảy dài thân cọc...
(“Em bé Triều Tiên”)

Những đoạn trên đồng chí Hoàng Cầm viết: "Không căm thù chỉ thấy ghê rợn". Kêu như vậy ta thấy Hoàng Cầm nặng về chỉ trích, nhẹ phê bình và nếu có phê bình như vậy là thiếu đắn đo, không hiện thực. Mà sự thật hình ảnh trên, Tố Hữu đã truyền cho cán bộ, cho chiến sĩ, nhất là anh em địch hậu đầy chất sống căm thù. Mối tình quốc tế thắm thiết, Tố Hữu nhìn đất nước Triều Tiên xa xôi nhưng gần gũi ruột thịt cũng chung một kẻ thù đế quốc không đội trời chung.

Qua vùng tạm chiếm, qua những cuộc càn quét lớn nhỏ của địch anh em đã được chứng kiến rất nhiều cảnh đau thương tương tự, do đó anh em càng thông cảm khi đọc thơ Tố Hữu. Tố Hữu với anh em là một.

Nói lên những hình ảnh hiếp tróc dã man tàn phá của đế quốc mà bảo "buồn, lạnh lẽo đến ghê rợn, không căm thù, chỉ thấy ghê rợn..." (Hoàng Cầm) thì thật là khó hiểu. Tôi không rõ viết như thế nào mới khơi được chí căm thù của Hoàng Cầm? Bắn vào giữa mục tiêu chưa chắc Hoàng Cầm đã cho là trúng đích.

Chắc Hoàng Cầm đã nghe nhiều bài hát căm thù hoặc đã dự nhiều buổi tố khổ của đơn vị trong chỉnh quân hay trước trận đánh quyết liệt. Anh em chiến sĩ đã rành rọt, nghẹn ngào, uất hận nói lên tất cả những cảnh đau khổ, chết chóc của thân thế, gia đình mình dưới thời đế quốc phong kiến... Nước mắt hòa nước mắt, mồ hôi quyện mồ hôi thấm vào từng viên đạn... bao nắm tay kiên quyết: thù này phải trả cho xong. Theo Hoàng Cầm, sau những buổi tố khổ đó chỉ có "buồn" rồi tay chống đầu lòng súng... bâng khuâng, chỉ thấy "ghê rợn, không căm thù..." tất nhiên là đi đến hoang mang, cầu an, hưởng lạc... Nhưng trái lại, sau những buổi tố khổ, những người nông dân mặc áo lính đó càng tăng thêm căm thù, trút căm thù đó vào viên đạn qua lòng súng mở đột phá khẩu, phá lô cốt, truy kích tiêu diệt hoàn toàn địch mới thôi.
Trong cuộc chỉnh quân ở Việt Bắc (1953) học tập tài liệu phóng tay phát động quần chúng, tôi đã đi tìm chép thơ Tố Hữu ở những đồng chí LK4, LK5... Say mê, thấm thía và bằng lòng là được chép lại đầy đủ bài thơ "Hai đứa bé". Ai đã được đọc bài này đều thấy rõ giá trị và tác dụng của nó.

Rồi hòa bình lập lại, khi về Hà Nội được đọc tập thơ Việt Bắc, tôi muốn đọc mãi, có khi phạm vào nội quy thời khắc biểu vì không phải nó buồn mênh mang như Hoàng Cầm buồn, không phải nó không hiện thực hay thiếu chất sống như Hoàng Cầm kêu, cũng không phải nó lạnh lẽo đến nỗi Hoàng Cầm phải ghê rợn. Chính là vì nó cách mạng do nhà thơ cách mạng lâu năm làm. Chính là vì nó đã xuất phát từ trong quần chúng mà ra rồi lại trở về với quần chúng. Nó đã bồi dưỡng giáo dục cho quần chúng vững lòng tin tưởng, kiên quyết đấu tranh vượt mọi khó khăn gian khổ để xứng đáng "làm dân Cụ Hồ". Chính là vì nó sống, nó gần gũi, nó thực tế và nó đã nói lên tuy rằng chưa được tất cả sức đấu tranh không ngừng của toàn dân trong kháng chiến cũng như trong hòa bình. Chính vì vậy mà nhà thơ Tố Hữu đã đạt được yêu cầu trước kia và hiện nay: quần chúng thích ngâm, thích đọc thơ Tố Hữu. Sự thật quá rõ ràng như vậy. Cũng như hỏi tại sao các em lại chỉ thích gần và yêu anh bộ đội. Có người bảo tại vì anh bộ đội hiền lành? Có người bảo tại vì anh bộ đội hay yêu trẻ. Theo tôi cũng chưa đúng lắm. Chính vì các em biết đích anh bộ đội là con em của nhân dân đã bảo vệ Tổ quốc yêu quý. Ở đây cũng vậy, đích là vì thơ Tố Hữu hiện thực và nhiều chất sống Cách mạng...


b) XUÂN SÁCH (Văn công):

... Trong xã hội u tối của chúng ta ngày xưa, thơ của Tố Hữu quả là hừng hực đấu tranh. Trong bóng tối dày đặc, một ngọn lửa cũng đủ sáng. Nhưng thời đại của chúng ta là ban ngày, là muôn ánh hào quang đang hiện lên rực rỡ, Tố Hữu chưa lớn được tương xứng, nhưng thi sĩ đã lớn. Những bài thơ căm hờn kêu gọi ngày xưa bây giờ thi sĩ đã thêm cho nó những nét đậm đà những ý thiết tha, những hơi thở của dân tộc.

Chính những cái dịu dàng, ý nhị, thiết tha trong thơ Tố Hữu đã thổi vào lòng người tình yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, sự lạc quan, hy vọng, những nhân tố đó chính có tác dụng rất mạnh để đẩy mạnh tinh thần đấu tranh của dân tộc. Tính chất thời đại, dân tộc, đại chúng của thơ Tố Hữu chính đã có một khả năng hiện thực đáng kể.


Nguồn: Văn nghệ, số 72 (21.5.1955)