20. PHAN CỰ ÐỆ (sinh viên văn khoa)
Ðọc tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu:

Tình cảm chưa theo kịp ý thức của con người

 


Tập thơ
Việt Bắc ra đời đã gây nên một phong trào tranh luận sôi nổi. Có nhiều ý kiến hoàn toàn đối lập nhau. Một số bạn đọc đâm ra hoang mang không biết nên theo ý kiến nào vì thực ra những ý kiến phê bình đều có những phần đúng của nó. Thế thì lấy tiêu chuẩn nào để định giá trị của tập thơ? Theo ý kiến tôi, muốn nhận chân được giá trị tập thơ Việt Bắc, trước hết cần phải thống nhất với nhau về một vài quan điểm phê bình đã.

Trước hết tôi đi vào lập trường của hai bạn Hoàng Yến và Hoàng Cầm. Cả hai bạn đều đã có nhiều ý kiến thống nhất: tập thơ
Việt Bắc thiếu hiện thực, ít chất sống thực tế. Ý kiến này có phần đúng. Nhưng cái khuyết điểm chung trong phương pháp phê bình của hai bạn là đã trích ra một đoạn trong bài thơ hoặc một số đoạn trong tập thơ để đi đến một kết luận chung cho toàn thể. Tách rời bộ phận khỏi toàn thể, chưa nhìn thấy toàn diện, các khía cạnh tập thơ, đó là một thiếu sót sót căn bản của hai bạn Hoàng Yến và Hoàng Cầm.

Có thể nói tập thơ
Việt Bắc đã thành công về hiện thực, về sự truyền cảm những tình cảm lành mạnh cho thời đại nhưng ở những khía cạnh nào đó nó chưa đạt được mà thôi. Trong con người của thi sĩ có thể còn những tình cảm lạc điệu chưa theo kịp cái ý thức tiến bộ. Mới nghe qua thì có vẻ mâu thuẫn nhưng thật ra thì thống nhất. Con người mới chúng ta đang đập tan những rác rưởi của xã hội cũ để xây dựng một con người mới hoàn toàn. Trong quá trình trưởng thành của nó, tất nhiên còn có những bước chập chững, nhưng cái hướng vẫn là hướng đi lên, cái bước đi vẫn là bước đi của con người mới.

Phê bình bài “Bao giờ hết giặc” của thi sĩ Tố Hữu, anh Hoàng Cầm cho là "cả bài, câu nào cũng đìu hiu vắng vẻ". Bà mẹ thương con một cách "thương tâm, não ruột". Người bộ đội trong thơ hiện lên bé bỏng, đáng thương. Những tình cảm, những con người không phải là chất sống thực của thời đại.

Nhưng tại sao anh Hoàng Cầm không nhắc đến bà mẹ, anh bộ đội trong bài “Bà mẹ Việt Bắc”, trong bài “Bầm”. Bà mẹ và anh bộ đội trong những bài thơ này đẹp đẽ và lành mạnh biết bao! Chính Hoàng Yến đã phải công nhận rằng trong những bài thơ này "còn có nhiều tác dụng góp vào việc nâng cao ý chí chiến đấu không ngừng, không mỏi của người chiến sĩ quân nhân cách mạng". Ðã có tác dụng như thế thì tất nhiên là thơ phải hiện thực, phải có chất sống rồi chứ gì nữa.

Cho nên phải nhìn cho được toàn bộ các khía cạnh của tập thơ. Không thể căn cứ vào một số ít những tình cảm lạc điệu, những nét thiếu hiện thực để đi đến kết luận rằng tập thơ
Việt Bắc thiếu hiện thực, "tác giả tổng kết sự việc trên tài liệu" hoặc tập thơ ít chất sống, giống như "một vại nước to đầy tràn, pha loãng một màu sữa", "mới nghe thì hay, nghe nhiều lần thì chán".

Cũng vì những quan niệm phê bình thiên lệch ở trên mà bạn Vũ Ðức Phúc đã phê bình bạn Hoàng Yến là chưa nắm vững vấn đề hiện thực.

Nhưng trong khi phê bình Hoàng Yến, bạn Phúc cũng đã có những cái nhìn quá đơn giản về con người của thi sĩ. Phê bình bài “Bắn” của Tố Hữu, Hoàng Yến viết: "…Ngay đoạn tác giả gợi căm thù cũng rất chung chung, đại khái, không sôi sục được lòng người đọc. Có thể nói tác giả đã nói đúng và đủ. Nhưng chất thơ không phải ở chỗ đúng và đủ. Ðặc tính của thơ là nói ít mà gợi nhiều, nói hiện tại mà ấp ủ tương lai. Có thể nói "tác giả đã tổng kết các việc trên tài liệu…" Về điểm này bạn Vũ Ðức Phúc hoàn toàn không đồng ý; bạn cho rằng: "Một người đã vào sinh ra tử bao nhiêu năm trời, nếm đủ mọi mùi tàn ác của đế quốc, chứng kiến bao nhiêu cảnh dã man của chúng gây ra, một người như Tố Hữu phải đâu là người không cảm thông được nỗi căm hờn giặc, dù chỉ là nghe chuyện mà hình dung ra sự việc. Một người như vậy nếu ta kết luận là "tổng kết sự việc trên tài liệu" thì cũng nên suy nghĩ một chút!"

Tôi chỉ đồng ý phần trên của bạn Phúc. Tố Hữu là một nhà thơ cách mạng đã trưởng thành trong lao tù, trong khói lửa kháng chiến. Quần chúng, Ðảng đã giáo dục cho thi sĩ một lập trường vững chắc, một ý thức căm thù địch sâu sắc. Bản thân thi sĩ đã nhiều lần chứng kiến những cảnh đau thương tang tóc của đồng bào. Nhưng có ý thức căm thù chưa phải là đã có ngay tình cảm căm thù đúng mức. Ý thức chỉ giúp đỡ cho cảm xúc nếu là ý thức tiến bộ - chứ không quyết định được cảm xúc của thi sĩ.

Trong một con người thi sĩ, có lúc tình cảm tiến bộ vượt xa hẳn ý thức lạc hậu của thi sĩ nhưng cũng có lúc ý thức đã tiến bộ mà tình cảm vẫn lẽo đẽo theo sau. Ðó là một hiện tượng thường xảy ra trong lĩnh vực văn học, ở Việt Nam và ngay cả thế giới. Ở trường hợp thi sĩ Tố Hữu, không phải tình cảm hoàn toàn chưa theo kịp ý thức, nhưng một đôi khi nó đã không theo kịp con người ý thức tiến bộ của thi sĩ. Phần sau đây tôi muốn nói đến những điểm "chưa ăn khớp" đó trong tập thơ
Việt Bắc.

Một trong những nhận xét của nhiều người là trong tập thơ
Việt Bắc, đôi lúc toát ra những cảm giác buồn, ngậm ngùi, xa vắng. Rõ nhất là trong bài “Bao giờ hết giặc”. Trong lúc “Bà mẹ Việt Bắc” rất tiến bộ, lành mạnh thì ở đây tác giả vẽ lên hình ảnh của một bà mẹ, một đêm về cuối năm, nằm không ngủ được, ngong ngóng trông con về:

Từ ngày nó bước ra đi
Nó đi giải phóng đến khi nào về
Bao giờ hết giặc về quê?
Ðêm đêm bà bủ nằm mê khấn thầm

Cái tin tưởng ở đây của bà mẹ mong manh lắm. Giữa cảnh "
mưa đêm… gió núi ù ù" bà thương con xa nhà vất vả. Hình ảnh người bộ đội hiện lên nhỏ bé, tội nghiệp.

Nó đi đánh giặc đêm này
Bước run bước ngã bước lầy bước trơn
Nhà còn ổ chuối lửa rơm
Nó đi đánh giặc đêm hôm sưởi gì?

Nỗi lo một lúc một "bời bời" làm bà cụ ruột gan bồn chồn cho đến sáng gà gáy. Tình thương của bà mẹ đối với chiến sĩ là một tình thương yếu ớt tiêu cực. Nó làm cho người chiến sĩ ủy mị nhụt chí lớn. Trong thực tế kháng chiến, có thể có một thiểu số những bà mẹ như vậy nhưng không phải là những hình ảnh điển hình của những bà mẹ thời đại. Bổn phận thi sĩ là phải ghi lấy những tình cảm thực nhưng đi lên của thời đại. Có thế thì mới có tác dụng giáo dục người đọc làm cho họ yêu thương căm thù lành mạnh hơn.

Bước sang một bài khác, bài “Tình cá nước”, chúng ta cũng thấy bà mẹ ở đây hiện lên với một niềm tin tiêu cực nếu không phải là tuyệt vọng, giữa cảnh hai người cán bộ và bộ đội gặp nhau trên lưng đèo, nói chuyện đánh giặc thắng trận "cười ha hả" thì tiếng ru con từ một xóm tre xanh xa xôi vẳng lại buồn buồn:

Cháu ơi cháu lớn với bà
Bố mày đi đánh giặc xa chưa về
Cháu ngoan cháu ngủ đi nhe
Mẹ mày ra chợ bán chè bán rau
Bố mày đánh giặc còn lâu
Mẹ mày cày cấy ruộng sâu tối ngày.

Ðành rằng bà mẹ ru như thế để yên lòng cháu nhỏ nhưng ở đây lời thơ ngậm ngùi, lặng lẽ tan rã, nó nói lên một cái gì thiếu tin tưởng trong tâm hồn bà mẹ chiến sĩ ấy.

Cái tình cảm buồn, ngậm ngùi lạc điệu ấy còn trà trộn trong một vài đoạn thơ của bài “Việt Bắc”, ở đây phải nói rằng cái dụng ý của tác giả là một dụng ý tốt. Sau 15 năm sống với núi rừng Việt Bắc thân yêu, tác giả muốn rằng ngày về thủ đô, người cán bộ sẽ không bao giờ quên được căn cứ địa thần thánh đó của cách mạng. Người cán bộ sẽ nhớ mãi Việt Bắc để giữ đúng tác phong giản dị, khắc khổ, "
trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền". Và trong ý thức tác giả, giữa núi rừng Việt Bắc và thủ đô chẳng có gì là cách biệt mà "nước non đâu cũng là ta với mình". Thủ đô được giải phóng tức là Việt Bắc cũng "tưng bừng thêm vui".

Ý thức của thi sĩ là thế. Nhưng cái không khí chia tay trong bài thơ lại có vẻ ngậm ngùi ly biệt:

Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Người ở lại nghẹn ngào, lưu luyến người đi:

Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng măng non để già [1]
Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son

Cũng như Hoàng Yến, tôi thấy Việt Bắc ở lại có vẻ heo hút, đìu hiu quá! Những câu thơ buồn buồn, tình cảm đi xuống, chết chóc. Nó gợi lên một cái gì khiên cưỡng trong lòng người đọc. Nó là những cung đàn lạc điệu trong một bản hợp xướng thủy chung và thắm thiết.

Trở lên trên là những cái lạc điệu trong tình yêu của thi sĩ. Vậy những lúc căm giận quân thù, thơ Tố Hữu như thế nào? Chúng ta cũng phải nói rằng ở một đôi bài, lòng căm thù giặc đó chưa đạt đúng mức. Rõ rệt nhất là trong bài “Bắn”. Người pháo binh ngồi ở "trên đầu chúng nó"; nòng đại bác chĩa xuống khoanh đồi đỏ trong đó bọn giặc lúc nhúc đang cười nói. Ðến giờ phút này mà chúng nó còn cười? Bao nhiêu hình ảnh đau thương, căm thù hiện ra rõ rệt trước mắt người chiến sĩ:

Bao nhiêu đồng chí của ta bay đã giết
Chặt đầu cắm cọc phơi khô
Chị em ta bay căng thịt lõa lồ
Con em ta bay quẳng chân vào lửa
Lúa ngô ta bay cướp về cho ngựa
Xóm làng ta bay đốt cháy tan hoang

Sự việc đầy đủ, nhưng chưa phải là lòng căm thù phẫn nộ. Lời thơ có vẻ kể lể, giống như một bản cáo trạng của quan tòa trước tội nhân. Người đọc vẫn chưa xúc động, chưa căm giận nghẹn ngào. Vấn đề không phải là kể nhiều mà phải là những sự kiện điển hình tự nó toát lên căm thù. Tôi đã đọc một bài thơ của Nông Quốc Chấn. Tác giả cũng kể lại những đau thương tang tóc trước ngày Cao Bắc Lạng giải phóng, nhưng ở đây thi sĩ chỉ đem ra một sự kiện, song xúc cảm người đọc rất nhiều. Trong một trận lùng, người cha bị giặc bắt và bị bắn ngã gục. Nhà thơ nghẹn ngào khóc lên:

- Cha ơi! Cha không biết nói nữa rồi
Chúng con còn thơ ai dạy ai nuôi
Không ai chống gậy khi bà cụ qua đời
Mẹ ngồi khóc, con cúi đầu cũng khóc

Nhưng không phải là cái khóc suông. Người trong thơ vẫn đứng lên:

Con cởi áo liệm thân cho bố
Máu đầy tay, nước tràn đầy mặt
Mày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tàn
Băm xương thịt mày tan mới hả

Lòng căm thù bốc lên, cần phải hành động để trả thù cho người đã chết. Những vần thơ trên của Tố Hữu chưa đạt đến mức độ căm thù đó.

Trong thơ của thi sĩ, cái yêu nhiều hơn cái ghét. Ai cũng phải nhận thấy rằng khi nói đến tình yêu quê hương, yêu bộ đội, nhân dân, lãnh tụ, v.v... lời thơ Tố Hữu có vẻ mến thương tha thiết lạ lùng. Ðọc thơ Tố Hữu người ta thấy tâm hồn mình trở nên ấm cúng, thân mật. Ngay đến cả thiên nhiên cũng có một mối tình đùm bọc đối với con người:

Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

Nhưng khi nói đến cái khía cạnh căm giận đau xót thì ở thơ Tố Hữu còn thiếu và đôi khi chưa đạt được. Nó chưa phải là cái căm giận nghẹn ngào, cái đanh đá quyết liệt của người nông dân đứng trước quân thù, và tôi lấy làm lạ rằng tại sao trong thơ Tố Hữu vắng hẳn cái căm thù chứa chất hàng ngàn đời của người nông dân đối với bọn địa chủ phong kiến tàn ác? Có phải là nhà thơ không nhìn thấy những căm thù, tang tóc, mất mát trong kháng chiến không? Không, hơn ai hết, thi sĩ biết rất rõ những mối thù ấy. Ngày từ giã Việt Bắc về thủ đô, nhà thơ không phải chỉ nhớ đến "
hoa mơ trắng rừng", "bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" mà tác giả còn nhớ rất rõ cái "mối thù nặng vai". Trong bài “Gửi về quê mẹ” thi sĩ xót xa với mối thù đó:

Giặc về giặc chiếm đau xương máu
Ðau cả lòng sông đau cỏ cây…

Thấy rõ những mối thù nhưng vẫn chưa nói lên đầy đủ và đúng mức những mối thù ấy, đó là cái tình trạng đôi khi "tình cảm đã không theo kịp ý thức tiến bộ" của con người thi sĩ.

Thơ của Tố Hữu đã nói lên được lòng yêu thương tha thiết đối với quê hương đất nước, đồng bào, lãnh tụ, v.v... của chúng ta. Thơ của Tố Hữu là một niềm tin tưởng lạc quan cách mạng. Cái "ta" trong thơ càng ngày càng lớn mạnh, cái "địch" càng ngày càng suy yếu và "ta" hơn hẳn "địch". Con người trong thơ tin tưởng vào bản thân mình và thấy rõ tương lai tươi sáng của dân tộc và nhân loại. Ðó là chủ nghĩa nhân văn mới trong thơ. Cũng chính vì có một nội dung phong phú như thế nên thơ của Tố Hữu đã nhóm trong lòng mọi người những ngọn lửa cổ võ chúng ta đứng lên chiến đấu dưới ngọn cờ vinh quang của Hồ Chủ tịch. Ðứng về phương diện nghệ thuật mà nói "thì những thành công đó chính là những thành công của chủ nghĩa hiện thực cách mạng, của chủ nghĩa nhân đạo cách mạng trong thơ".

Ðó là những thành công căn bản mà các anh Xuân Trường, Xuân Diệu đã giới thiệu với bạn đọc trên mặt báo. Bên cạnh những thành công căn bản đó chúng ta thấy rằng tình cảm trong thơ có lúc còn buồn, ngậm ngùi, xa vắng, cái căm giận đau xót còn nhẹ nhàng, chưa sâu sắc và đầy đủ. Ðó là một hiện tượng "chưa ăn khớp" hoàn toàn giữa tình cảm và ý thức của thi sĩ.

San bằng được cái "chưa ăn khớp" hoàn toàn giữa tình cảm và ý thức ở trên là nhiệm vụ chủ yếu của quần chúng phải bồi dưỡng cho nhà thơ.


Nguồn:
Tổ quốc, số 9 (20.4.1955)

[1]Chỗ này tác giả trích thơ thiếu chính xác; thực ra lời trong bài thơ Tố Hữu là “măng mai”, không phải “măng non” (NST).